Tăng cường hỗ trợ và hợp tác cho các doanh nghiệp FDI

11:45:28 | 27/10/2014

Thực hiện Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng hợp các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của DN để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời tạo sân chơi cho các nhà sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài ( FDI) tại các tỉnh, thành phía Bắc tăng cường hợp tác, mở rộng sản xuất, kinh doanh, VCCI và UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp tổ chức Diễn đàn “ Ngày Nhà máy FDI hội tụ”. Nhân dịp này, PV Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với TS Đoàn Duy Khương- Phó Chủ tịch VCCI xung quanh sự kiện này. Anh Mai thực hiện.

Thưa ông, Diễn đàn “ Ngày Nhà máy FDI hội tụ” là một sự kiện quan trọng thu hút đông đảo sự quan tâm của các DN, đặc biệt là các DN FDI. Ông có thể cho biết vài nét về chương trình này?

Diễn đàn “ Ngày Nhà máy FDI hội tụ” sẽ tập trung cập nhật, thảo luận về tình hình kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư VN và định hướng thu hút FDI trong thời gian tới, cũng như các cách thức tăng cường hợp tác giữa các nhà máy FDI và các tập đoàn đa quốc gia. Đặc biệt, Diễn đàn còn tạo cơ hội cho các DN FDI đối thoại trực tiếp với đại diện Chính phủ, lãnh đạo các Bộ ngành và địa phương. Đây cũng là dịp để Chính phủ VN thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc hỗ trợ tối đa hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN FDI tại VN.

Các khách mời dự kiến gồm đại diện từ Chính phủ, các bộ ban ngành liên quan, các tỉnh thành trên cả nước, các Đại sứ quán, tổ chức quốc tế và hiện hội doanh nghiệp nước ngoài, và khoảng 200 nhà sản xuất FDI đến từ  HN, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương…

Sự kiện này được đánh giá là sẽ giúp các nhà sản xuất, lắp ráp, ví dụ như các tập đoàn đa quốc gia gặp gỡ, trao đổi thông tin với các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng, nguyên vật tư kỹ thuật trong các lĩnh vực như công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp điện tử, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy.

Thu hút FDI có chiều hướng suy giảm và cho đến nay vẫn chưa được cải thiện nhiều. Ông đánh giá thế nào về tình hình này, thưa ông?

Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy thì trong 9 tháng đầu năm 2014 (tính đến 20-9), vốn FDI đầu tư vào VN tiếp tục giảm mạnh. Tính chung, tình hình thu hút FDI vẫn chưa được cải thiện, chỉ có 11,18 tỷ USD vốn FDI, giảm gần 25,5% so cùng kỳ 2013. Trong đó, dự án cấp mới: có 1.152 dự án với tổng vốn đăng ký 7,63 tỷ USD, tăng 5,4% so với tháng trước nhưng giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2013; Dự án tăng vốn: có 418 lượt dự án  với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,54 tỷ USD, tăng gần 18,8% so với T8-2014 và giảm 37,9% so với cùng kỳ năm 2013.


Mặc dù giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái nhưng lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo vẫn thu hút lượng lớn nhất FDI so với các ngành khác với hơn 7,7 tỷ USD; tăng khoảng 10% so với tháng trước và chiếm gần 69% tổng FDI của toàn nền kinh tế. Điều dễ thấy, FDI vào lĩnh vực này giảm mạnh có ảnh hưởng đáng kể vào sự sụt giảm của tổng FDI toàn ngành. Lĩnh vực bất động sản tiếp tục chứng kiến sự tham gia mạnh mẽ của các đối tác nước ngoài vào thị trường nội địa với hơn 1,2 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 11% tổng FDI của cả nước và tăng hơn 6% so với tháng 8, tăng hơn 108% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là hai lĩnh vực có vốn FDI trên 1 tỷ USD trong 3 quý của năm 2014. Trong 10 ngành chủ lực về thu hút vốn FDI của cả nước thời gian này, tổng vốn FDI đã giảm 25% so với cùng kỳ 2013 với nhiều ngành sụt giảm mạnh như bán buôn, bán lẻ và sửa chữa, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo. Dẫu vậy, vốn đầu tư vào 10 lĩnh vực này vẫn có cải thiện so với tháng trước.




Đáng chú ý, không khó để nhận ra sự thay đổi trong top 10 đối tác đầu tư vào VN 9 tháng năm 2014,  các đối tác hàng đầu như Nhật Bản, Singapore giảm tới hơn 70% (so cùng kỳ 2013) lượng vốn đầu tư vào VN và nhường vị trí dẫn đầu cho Hàn Quốc, Hồng Kông. Thêm vào đó, top 10 cũng ghi danh nhiều đối tác mới mà cùng kỳ 2013 chỉ đứng ở vị trí khiêm tốn hơn trong top 20 hoặc 30 như BritishVirginIslands, Canada hay Hoa Kỳ. Các đối tác Âu Mỹ như BritishVirginIslands hay Hoa Kỳ đã chú ý hơn tới VN thể hiện qua số liệu FDI tăng mạnh. Dù còn rất nhỏ so với hàng tỷ USD mà Hoa Kỳ đầu tư trên toàn thế giới nhưng nhà đầu tư này đã liên tục tăng vốn vào VN. Đã có gần 224 triệu USD vốn FDI đến từ quốc gia Bắc Mỹ này trong 9 tháng đầu năm 2014, tăng hơn 33% so với tháng trước và 128% so với cùng kỳ năm ngoái. Một quốc gia Bắc Mỹ khác – Canada – cũng đẩy mạnh đầu tư vào VN với 8 dự án đăng ký mới và 1 dự án tăng vốn. Trong số 8 dự án này, nổi bật có dự án Bệnh viện quốc tế Đại An Việt Nam – Canada do Tập đoàn Triple Eye Infrastructure (Canada) với tổng vốn 225 triệu USD. 10 đối tác dưới đây chiếm gần 89% lượng vốn FDI đầu tư vào VN tính đến ngày 20-9- 2014.


Công ty TNHH SamSung Display với dự án 1 tỷ USD tại Bắc Ninh vẫn là dự án nổi bật nhất về quy mô vốn đầu tư, giúp Bắc Ninh đứng đầu cả nước về thu hút vốn FDI và cũng đưa Hàn Quốc trở thành đối tác FDI hàng đầu của VN.

Về giải ngân, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được tỷ 8,9 tỷ USD, tăng 3,2 % so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm gần 80% tổng vốn FDI cấp mới và tăng thêm.

Doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 894 triệu USD trong 7 tháng đầu năm nay. Như vậy, lũy kế đến hết tháng 7/2014, Việt Nam có 890 dự án đã được cấp phép đầu tư sang 63 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký của phía Việt Nam đạt 19 tỷ USD.


Việt Nam hiện đang đứng thứ 99/189 nền kinh tế về xếp hạng môi trường kinh doanh theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới. Theo ông, đâu là những lĩnh vực khiến VN lại bị tụt hạng trong việc xếp hạng này?


Chi phí lao động tăng nhanh, thủ tục hành chính phức tạp, hệ thống pháp luật thiếu hoàn thiện... đang ngày càng ảnh hưởng nhiều đến cảm nhận của nhà đầu tư và về lâu dài sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến cả hoạt động đầu tư FDI nói chung.


Về cụ thể, ví dụ như thời gian nộp thuế, chỉ số nộp thuế của VN xếp hạng 149, doanh nghiệp mỗi năm mất 872 giờ dành cho việc này, trong khi đó nước kém nhất cũng chỉ mất khoảng 300 giờ. Với chỉ số thương mại qua biên giới, doanh nghiệp mỗi năm mất 21 ngày để làm thủ tục xuất khẩu và 21 ngày để nhập khẩu. Về tiếp cận nguồn điện, doanh nghiệp phải trải qua 6 thủ tục, mất 115 ngày để giải quyết. Bên cạnh đó, tại Việt Nam còn quá nhiều số định danh, trong đó đối với doanh nghiệp gồm có số đăng ký kinh doanh, mã số thuế, BHXH; với người dân là mã số thuế cá nhân, chứng minh nhân dân, số BHXH… Càng nhiều số định danh càng làm tăng sai sót và tạo cơ hội trốn, lách luật, gây khó cho cơ quan quản lý. Hơn nữa, thời gian để doanh nghiệp xin được giấy phép hoạt động, nếu quy đổi ra tiền sẽ ra con số rất lớn.


Nhiều DN Nhật Bản cũng như các DN FDI khác phàn nàn về cơ sở hạ tầng điện lực, ví dụ như mất điện trên 6 tiếng hoặc rất nhiều lần mất điện tạm thời; vấn đề nhân lực từ các trường đại học chuyên ngành kỹ thuật không đáp ứng yêu cầu; cần xem xét việc nới lỏng quy định liên quan đến việc bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ. Bởi lẽ quy định hiện nay chỉ chấp nhận cho vay ngoại tệ đối với những doanh nghiệp có thu nhập ngoại tệ đảm bảo cho khả năng chi trả, tùy theo từng loại hình kinh doanh.


Theo ông, VN phải làm gì để cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi hơn nữa cho các DN FDI?


Muốn cải thiện môi trường kinh doanh, các cơ quan quản lý cần đổi mới từ nhận thức và cách tiếp cận với các giải pháp, nếu không rất khó đạt mục tiêu. Phải giảm quy trình thủ tục thuế - hải quan; giảm thời gian giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp, có tình trạng doanh nghiệp không biết những khiếu nại của mình thực tế đang nằm ở đâu, mất rất nhiều thời gian chờ đợi. So với quy định quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam còn 6 loại tờ khai phải làm, cần xem xét có thể bỏ được không?


Một trong những mục tiêu của Nghị quyết 19 của Chính phủ là nâng các chỉ số cạnh tranh chính của Việt Nam ngang bằng mức trung bình của 6 nước ASEAN. Theo lộ trình, các cơ quan sẽ cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí cho các doanh nghiệp trong 3 chỉ số theo báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, đó là cải thiện thương mại qua biên giới, thuế quan và tiếp cận điện. Bộ Tài chính đang quyết tâm giảm được 200 giờ trong tổng thời gian nộp thuế ngay trong năm nay. Giảm thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp từ mức 21 ngày xuống bằng mức trung bình của các nước ASEAN-6: xuất khẩu là 14 ngày và nhập khẩu 13 ngày. Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam cũng cam kết rút thời gian tiếp cận điện năng đối với các doanh nghiệp, dự án đầu tư xuống còn tối đa 70 ngày.


Đặc biệt, VN cần cải thiện về mặt luật pháp, về các cơ chế chính sách hiện tại cũng như cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành, bởi đây là quy trình thuộc về trách nhiệm của chính phủ, do vậy các bộ ngành liên quan phải là đơn vị tích cực nhất thực hiện các điều này ngoài sự hỗ trợ kỹ thuật hoặc tài chính từ các cơ quan nước ngoài.


Bên cạnh đó, Việt Nam cần giải quyết các thử thách về tham nhũng và khuyến khích DN cùng hợp tác phát hiện tham nhũng.


Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được VCCI công bố thường niên 9 năm qua đã góp phần đổi mới tư duy của chính quyền các địa phương, đồng thời tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp. Sắp tới, VCCI sẽ hợp tác với Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan thực hiện điều tra chỉ số hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình giao dịch đối với ngành thuế và hải quan. Ông có thể cho biết cụ thể hơn về vấn đề này?


Qua 9 năm công bố, PCI đã trở thành động lực thúc đẩy các tỉnh, thành thực hiện cải cách, khắc phục các bất cập, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để thu hút đầu tư và cạnh tranh lành mạnh với các tỉnh khác. Thông qua PCI, chính quyền địa phương có thể biết được là tỉnh mình công tác thuế còn nhiều rào cản, còn thanh tra, kiểm tra nhiều; còn nhiều phiền hà trong thủ tục đất đai, gây khó khăn cho doanh nghiệp hay chi phí không chính thức doanh nghiệp phải bỏ ra của thành phố mình quản lý còn cao… Từ đó, lãnh đạo địa phương xác định được đâu là lĩnh vực cần phải chấn chỉnh, cần phải cải thiện.


Theo đặt hàng của Chính phủ, Bộ Tài chính, nhóm thực hiện PCI của VCCI sẽ hợp tác với Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan thực hiện đánh giá sự hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình giao dịch đối với ngành thuế và hải quan. Đây là hai ngành rất quan trọng và quyền lực, tác động đến tất cả cộng đồng doanh nghiệp, ở tất cả các thời điểm khác nhau. Bất kể sự phiền hà hay thuận lợi, tốn kém hay ít tốn kém, phức tạp hay đơn giản của những thủ hành chính thuế và hải quan phần nào tác động và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến cả nền kinh tế.


Trong năm 2012 và 2013, VCCI đã phối hợp với Tổng cục Hải quan tiến hành cuộc khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp với hoạt động hải quan với khoảng 6.000 doanh nghiệp xuất, nhập khẩu để xem sự đánh giá về các chỉ số thời gian, sự tham nhũng, sự phiền phà, mức độ hiện đại hóa, số lượng giấy tờ thủ tục… của các cửa khẩu, các cơ quan hải quan đối với doanh nghiệp. Qua đó, giúp ngành hải quan từng bước hoàn thiện dịch vụ hải quan nhằm giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hải quan. Đồng thời, có cái nhìn khách quan, thực tế về hoạt động hải quan, xây dựng và tăng cường mối quan hệ giữa hải quan và doanh nghiệp.


Thời gian tới đây, VCCI sẽ thực hiện điều tra rộng rãi ở lĩnh vực thuế, hải quan và công bố công khai kết quả. Qua đó, cung cấp một công cụ cho Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan một cái nhìn khách quan, chính xác về hoạt động của từng cục thuế, cục hải quan của mình. Từ đó, xác định các biện pháp phù hợp trong quá trình chỉ đạo điều hành của Tổng cục,tổ chức thực hiện tại các địa phương để đạt được các mục tiêu trong cải cách hiện đại hóa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.