Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp đang là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Mặc dù việc chuyển đổi này đang mang lại những tín hiệu tích cực từ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng đến nay, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Theo Công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 10/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2017 - 2020 cổ phần hóa 127 doanh nghiệp (Năm 2017: 44 doanh nghiệp; Năm 2018: 64 doanh nghiệp; Năm 2019: 18 doanh nghiệp; Năm 2020: 01 doanh nghiệp). Kế hoạch là như vậy, nhưng trên thực tế, công tác này đang mang lại kết quả không như mong muốn.

Từ năm 2016 đến tháng 11-2018, cả nước đã cổ phần hóa được 147 doanh nghiệp trong đó có nhiều doanh nghiệp quy mô vốn nhà nước lớn, riêng trong năm 2017, tổng quy mô vốn nhà nước được xác định lại tại các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đạt trên 160.000 tỷ đồng, bằng 81,5% tổng giá trị phần vốn nhà nước ở các doanh nghiệp được cổ phần hóa giai đoạn 2011 - 2015; thực hiện thoái vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp, thu về được gần 155 nghìn tỷ đồng. Các DNNN được cơ cấu lại đã tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng, thực hiện vai trò, nhiệm vụ làm nòng cốt điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô; hiệu quả hoạt động của DNNN và doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên.
Theo ông Phạm Đức Trung, Trưởng ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp (Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM), phần lớn DNNN sau cổ phần hóa có kết quả kinh doanh tốt hơn so với trước cổ phần hóa. Như vậy, cổ phần hóa thực sự là biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đấy là lý do tại sao người ta vẫn nói cổ phần hóa là giải pháp chủ yếu của tái cơ cấu DNNN.
Trong giai đoạn từ 2016 – tháng 11/2018, cả nước đã thoái được 17.826 tỷ đồng, thu về 155.735 tỷ đồng. Trong đó, năm 2016 thoái được 3.645 tỷ đồng, thu về 6.839 tỷ đồng. Năm 2017: thoái được 9.046 tỷ đồng, thu về 138.327 tỷ đồng (gồm khoản thoái vốn nhà nước tại Sabeco và Vinamilk). Trong đó có 13 đơn vị thoái vốn theo kế hoạch tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg với giá trị thoái 1.417 tỷ đồng, thu về 2.678 tỷ đồng. Trong 9 tháng năm 2018 thoái được 5.067 tỷ đồng, thu về 10.499 tỷ đồng. Trong đó có 18 đơn vị thực hiện thoái vốn theo kế hoạch tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg với giá trị 1.308 tỷ đồng, thu về 2.511 tỷ đồng (2 đơn vị thuộc kế hoạch năm 2018 và 16 đơn vị thuộc kế hoạch năm 2017).
Thống kê từ Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho thấy, sau khi thực hiện cổ phần hóa, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn. Đa số các doanh nghiệp đều gai tăng tổng tài sản, lợi nhuận cũng tăng mạnh. Tuy nhiên vẫn còn một số ít doanh nghiệp chưa thích ứng với cơ chế thị trường, dẫn đến phát sinh lỗ. Theo Cục Tài chính doanh nghiệp, có 35 doanh nghiệp bị lỗ sau khi chuyển đổi với tổng giá trị là 844 tỷ đồng; tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước đạt 47.297 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp lớn, sau khi cổ phần đã phát sinh lỗ như: Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh lỗ phát sinh 70 tỷ đồng; Tổng công ty LICOGI lỗ phát sinh 59 tỷ đồng....
Có thể thấy, việc chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty CP không chỉ là màu hồng và vẫn còn đấy những khó khăn bắt buộc doanh nghiệp phải tự chèo lái để vượt qua, nhiều doanh nghiệp thậm chí còn không thể bảo toàn được nguồn vốn chủ sở hữu sau khi cổ phần hóa như: Công ty CP Lương thực và Dịch vụ Quảng Nam (âm vốn chủ sở hữu 79 tỷ đồng); Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Đà Nẵng (âm vốn chủ sở hữu 41 tỷ đồng)...
Theo TS. Lưu Bích Hồ, đối với các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, trước mắt cần khẩn trương thực hiện yêu cầu về niêm yết trên thị trường chứng khoán, đây được xem là biện pháp quan trọng để thúc đẩy việc đổi mới, hiện đại hóa quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, dần từng bước hoàn thiện và phát triển hơn nữa, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục diễn ra. Việc hoàn thành mục tiêu cổ phần hóa và thoái vốn DNNN vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh quyết tâm của Chính phủ thì vẫn rất cần sự đồng hành của các doanh nghiệp, của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và sự tham gia của các cơ quan liên quan. Có được điều này mới tạo được sức bật khi Việt Nam bước vào giai đoạn hai của công cuộc đổi mới. Đó là việc xử lý những nút thắt, những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình cổ phần hóa.
Lương Tuấn