Tăng cường hỗ trợ vốn và đào tạo nhân lực cho Việt Nam

10:52:07 | 20/1/2011

Ông Tsuno Motonori – Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam.

Viện trợ ODA trong năm tài khóa 2010 của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam có mức cam kết lớn nhất từ trước đến nay, tương đương 1,8 tỷ USD. Để tìm hiểu thêm về hiệu quả sử dụng nguồn vốn này và những vấn đề liên quan, Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có dịp trò chuyện với ông Tsuno Motonori – Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam.

Xin ông cho biết những đóng góp của Nhật Bản trong năm 2010 về vấn đề tài trợ vốn và triển khai những dự án ODA tại Việt Nam?

Năm 2010, mối quan tâm của Nhật Bản đối với Việt Nam cao nhất so với các năm trước đó. Phía Nhật Bản đã triển khai rất mạnh các hoạt động chính trị với Việt Nam như chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan vào tháng 10. Trước đó, các cuộc viếng thăm của các quan chức Chính phủ Nhật như Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Ngoại giao… cũng đã diễn ra.

Viện trợ ODA trong năm tài khóa 2010 của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam có mức cam kết lớn nhất từ trước đến nay, tương đương 1,8 tỷ USD.

Trong số những dự án vốn vay mới được cam kết thực hiện trong năm 2010 có các công trình tiêu biểu như cảng nước sâu Lạch Huyện (Hải Phòng); Nhà ga quốc tế thứ 2 của sân bay Nội Bài, cầu Nhật Tân; Đường cao tốc nối Nhật Tân – Nội Bài; Tuyến đường bộ cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi vốn là một phần của tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam; Nhà máy điện Nghi Sơn…

Một vấn đề nữa là trong năm qua Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất nặng nề bởi thiên tai, mưa lũ, đặc biệt là các đợt lũ lụt tại miền Trung. Điều đó chứng tỏ Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng rất lớn từ biến đổi khí hậu. Vì vậy, việc hỗ trợ Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu là một vấn đề rất quan trọng chúng tôi quan tâm đến. Trong tổng vốn 1,8 tỷ USD chúng tôi cam kết cũng có một phần được trích ra để ứng phó với biến đổi khí hậu.

Về Chương trình sáng kiến chung Nhật – Việt, JICA đã cử nhiều tình nguyện viên cao cấp đến làm việc với các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước, cơ quan thuế quan, Bộ KH-ĐT, Bộ NN&PTNN… để triển khai chương trình này.

Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Việt Nam?

Nhìn chung các dự án ODA đã phát huy hiệu quả tốt. Nếu so sánh với các quốc gia khác thuộc Châu Phi, thì Việt Nam vẫn là nước đạt hiệu quả sử dụng vốn cao.

Những công trình mà Nhật Bản đã hỗ trợ cho Việt Nam từ trước tới nay như cầu, cảng biển, nhà máy điện đều đã phát huy được vai trò của mình cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam như kêu gọi đầu tư, xóa đói giảm nghèo, tăng cường xuất khẩu…

Một số doanh nghiệp Nhật Bản đã cho biết họ gặp phải một số vướng mắc khi thực hiện các dự án tại Việt Nam như giải phóng mặt bằng và giải ngân chậm… Ông có nhận xét gì về vấn đề này?

Đúng là khi triển khai các dự án tại Việt Nam chúng tôi gặp phải một số khó khăn. Việc hoàn thành các công trình từ khi bắt đầu đến khi bàn giao đều tốn nhiều thời gian hơn dự kiến. Lúc bắt đầu dự án chúng tôi luôn gặp khó khăn với việc giải phóng mặt bằng, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Khi đi vào thi công dự án, chúng tôi lại tốn thời gian nhiều cho cơ chế đấu thầu, giải ngân.

Ví dụ như dự án Cầu Nhật Tân, trong đó chia ra là 3 gói dự án nhỏ, đó là: Bờ Bắc và đường dẫn bờ Bắc; Phần thân cầu; Bờ Nam và đường dẫn bờ Nam. Phần thân cầu và bờ Bắc, đường dẫn bờ Bắc đã bắt đầu xây dựng nhưng khó có thể tiếp tục triển khai vì chưa giải quyết triệt để khâu giải phóng mặt bằng. Tệ hơn nữa là phía bờ Nam và đường dẫn bờ Nam thì công tác giải phóng mặt bằng hầu như không tiến hành được. Vì thế cho đến nay, chưa có nhà thầu nào đứng ra nhận thi công gói dự án này. Qua suốt 1 năm, chúng tôi đã làm việc với đơn vị và cơ quan hữu quan với dự án này và cũng chỉ giải phóng được thêm một số diện tích đất nông nghiệp. Tiến độ chậm cũng đã gây thiệt hại lớn.

Hai dự án khác chúng tôi đặc biệt quan tâm là dự án xây dựng Đại lộ Đông – Tây tại TP Hồ Chí Minh và Dự án cải thiện môi trường nước cũng tại TP HCM. Việc triển khai xây dựng luôn vướng phải hệ thống dây cáp, hệ thống điện, nước ngầm dưới lòng đất. Việc xử lý những công trình ngầm này lại chậm trễ nên buộc chúng tôi phải chờ đợi. Bạn biết đấy, giá nguyên vật liệu tăng cao theo từng ngày, mất thời gian chờ đợi sẽ dẫn đến thiếu vốn. Vì vậy chúng tôi đã phải chuẩn bị cung cấp thêm một số gói vốn vay bù vào khoản thiếu đó.

Những doanh nghiệp tham gia thực hiện các dự án ODA tại Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp lớn và có uy tín tại Nhật Bản. Khi có vướng mắc xảy ra, họ đều chứng minh được họ đã hoàn thành công việc theo đúng kế hoạch… thế nhưng khi họ yêu cầu thanh toán hợp đồng thì thời gian chờ đợi thẩm định dự án kéo dài rất lâu, vì vậy, họ luôn coi việc chậm thanh toán là một rủi ro lớn khi làm việc tại Việt Nam. Điều này vô hình trung tạo ấn tượng không tốt cho các doanh nghiệp nước ngoài khi thực hiện công trình tại Việt Nam.

Thông thường thì các công trình do ban quản lý dự án thực hiện, nhưng khi có khó khăn xảy ra thì các ban quản lý dự án này lại phải xin ý kiến từ các cơ quan cấp trên hay ban ngành hữu quan trong thành phố, Trung ương… nên rất tốn thời gian.

Theo ông, Việt Nam cần phải làm những gì để có thể cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới?

Trong thời gian tới, Việt Nam cần nỗ lực tối đa để giải quyết các khó khăn như thủ tục hành chính, giảm các trường hợp chậm trễ, giãn tiến độ dự án.

Bên cạnh việc xây dựng các công trình, việc làm sao để chuyển giao công nghệ và quản lý, cũng như vận hành được các công trình đó cũng rất quan trọng. Để đáp ứng được nhu cầu này, vai trò của các doanh nghiệp tư nhân cũng rất lớn. Chúng tôi nghĩ việc đẩy mạnh huy động nguồn vốn tư nhân theo mô hình kết hợp giữa nhà nước và tư nhân (mô hình PPP) rất phù hợp với Việt Nam trong thời gian tới. Ví dụ như Dự án cảng Lạch Huyện, những phần đòi hỏi kỹ thuật khó như cầu dẫn ra biển, lấp biển, xây dựng cầu tàu… sẽ được thực hiện bởi nguồn vốn ODA, sau đó, việc lắp đặt các trang thiết bị bốc dỡ, máy móc, vận hành sẽ do các doanh nghiệp tư nhân thực hiện.

Năm 2015 là năm tự do hóa thương mại ASEAN, nếu Việt Nam muốn tiếp tục thu hút được vốn đầu tư từ nước ngoài đòi hỏi Việt Nam phải tự chứng tỏ năng lực cạnh tranh của mình. Chính phủ Việt Nam phải lấy mốc 2015 này là mốc “cảnh báo”, vì sau khi ASEAN tự do hóa thương mại hoàn toàn, Việt Nam sẽ gặp phải những áp lực cạnh tranh rất lớn với các nước trong khu vực.

Muốn cạnh tranh tốt, Việt Nam cần tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng như đường bộ cao tốc, các nhà máy điện, cảng biển, sân bay…và nâng cao nguồn nhân lực.

Với tư cách là nhà tài trợ lớn nhất, chúng tôi sẽ tăng cường hỗ trợ về vốn vay cũng như về đào tạo để nâng cao năng lực kinh doanh, kỹ thuật, cũng như năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

Là một người gắn bó với Việt Nam đã lâu, ông có ấn tượng gì về đất nước, con người nơi đây?

Từ khi Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam từ năm 1992, tôi đã có dịp công tác tại đây. Quả thật, Việt Nam đã thay đổi vượt bậc về kinh tế, xã hội trong 18 năm qua. Là người có may mắn được chứng kiến những thay đổi đó, tôi thật sự vui mừng.

Tôi đã 2 lần đón tết ở Việt Nam cùng với vợ tôi. Tôi vẫn nhớ như in ấn tượng về ngày Tết Âm lịch của Việt Nam 18 năm trước, đó là những tiếng pháo. Giờ không còn pháo nữa nhưng không khí tết vẫn luôn vui vẻ, rộn ràng. Trong những ngày tết tôi đã đến nhà bạn bè thăm hỏi, quây quần với gia đình họ. Điều này làm tôi nhớ đến thời còn bé ở Nhật cũng vậy, cả gia đình đi thăm hỏi bạn bè và quay quần với nhau. Cách bài trí, món ăn tết… thì khác nhau, nhưng cái cách mà cả gia đình cùng nấu ăn, cùng ở bên nhau, cùng đi lễ chùa khiến tôi cảm nhận được sự đầm ấm, vui vẻ khi ở đây. Tôi nghĩ, Việt Nam là nước trong khu vực Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng nhất với quê hương tôi.

Hương Ly (thực hiện)