Bức tranh tăng trưởng của Việt Nam vẫn sáng sủa

09:53:53 | 5/7/2022

GDP quý II/2022 tăng trưởng 7,72%, cao nhất trong hơn 1 thập kỷ. GDP 6 tháng cũng tăng 6,42%. Kết quả này là minh chứng cho bức tranh kinh tế khởi sắc rõ nét và nhiều lĩnh vực đang đà phục hồi mạnh mẽ. Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro vẫn còn tiềm ẩn. Phóng viên Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với Ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam. Lan Anh thực hiện.

Giá cả các mặt hàng tăng cao, đặc biệt là giá xăng dầu đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nền kinh tế, trong đó có vấn đề về lạm phát. Ông có thể cho biết đánh giá về những tác động này đối với nền kinh tế Việt Nam?

Lạm phát là yếu tố rủi ro lớn nhất đối với kinh tế Việt Nam cũng như  đối với kinh tế thế giới trong năm 2022 và 2023. Có nhiều yếu tố tác động đến lạm phát, trong đó có hai yếu tố chính: Thứ nhất là kinh tế toàn cầu phục hồi, kéo theo nhu cầu tăng lên, trong đó có nhu cầu về xăng dầu, dẫn tới tăng giá xăng dầu; và nếu nền kinh tế Trung Quốc phục hồi đồng thời với việc Trung Quốc không áp dụng các biện pháp hạn chế “zero covid” như hiện giờ thì sẽ là nhân tố tác động rất mạnh đến việc tăng giá xăng dầu. Thứ hai là cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina có tác động đến nguồn cung xăng dầu và tăng áp lực lên giá xăng dầu trên thế giới.

Hai yếu tố trên đã tác động khiến giá xăng dầu có biến động mạnh nhưng tình hình hiện nay cho thấy yếu tố thứ nhất đang giảm đi nhiều và những dự đoán về suy thoái kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển có thể sẽ xảy ra. Khi đó, giá xăng dầu sẽ “hạ nhiệt”. Thời điểm hiện nay chúng ta đã thấy giá xăng dầu có biến động giảm rồi nên có lẽ yếu tố tiềm ẩn rủi ro nhất đối với giá xăng dầu là cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina trong thời gian sắp tới. Đặc biệt, nếu xung đột kéo dài, sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn cung dầu vì các nước Trung Đông khó có thể tăng thêm nguồn cung trong năm 2022 – 2023 do hạn chế về cơ sở hạ tầng khai thác dầu.  Các nguồn cung khác như Venezuela hay Iran đòi hỏi phải có sự thỏa hiệp lớn về chính trị, khó có thể xảy ra trong ngắn hạn.

Đối với Việt Nam, từ đầu năm đến nay, giá xăng dầu đã tăng 13 lần, giá tăng gần như gấp đôi so với năm 2021, nhưng rất may là giá lương thực thực phẩm- theo số liệu thống kê- lại không tăng mạnh, thậm chí một số mặt hàng thiết yếu như thịt lợn và thủy sản còn giảm giá. Điều này là do VN là nước xuất khẩu lương thực thực phẩm nên hạn chế được phần nào những biến động tăng giá của lương thực thực phẩm, thậm chí nền kinh tế Việt Nam còn được hưởng lợi vì khi giá lương thực thực phẩm tăng thì giá trị xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng.

Ở một chừng mực nhất định, việc tăng giá xăng dầu hiện chưa kịp “chuyển vào” giá lương thực thực phẩm thông qua vận chuyển nên phải mất một thời gian nhất định, có thể trong quý III, quý IV, đặc biệt là dịp Tết cuối năm nay thì việc tăng giá lương thực, thực phẩm mới có thể xảy ra..

Nói chung, lạm phát là một rủi ro đối với nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên bức tranh tăng trưởng của Việt Nam vẫn sáng sủa. xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp, và dịch vụ đã và sẽ là những động lực cho phục hồi kinh tế.  ADB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 6,5% trong năm 2022. Dự báo này ADB đưa ra vào hồi tháng 4/2022 và cho đến thời điểm này vẫn giữ nguyên không thay đổi. Lạm phát của VN vẫn nằm trong tầm kiểm soát, khoảng 4 % . Tất nhiên, rủi ro lạm phát vẫn có thể tăng lên nhưng trướcviễn cảnh kinh tế thế giới có thể suy thoái nên ADB vẫn giữ nguyên đánh giá mức lạm phát 4 %.

Cùng với những tác động trên, nợ xấu và xử lý nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam cũng là vấn đề “nóng” được chú trọng quan tâm và tìm cách giải quyết. Đánh giá của ông về vấn đề này như thế nào? Theo ông, để giải quyết an toàn nợ xấu, các ngân hàng Việt Nam cần phải làm gì trong bối cảnh hiện nay?

Vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu đang nổi lên trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nợ xấu nội bảng, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, mới dưới 2 % tổng dư nợ, nhưng nếu cộng thêm tất cả nợ xấu ngoại bảng và nợ xấu đang ở VAMC cũng như những khoản nợ được tái cơ cấu nhưng có tiềm năng trở thành nợ xấu thì có thể lên cao hơn rất nhiều, có thể lên trên 6 % tổng dư nợ tín dụng.

Nợ xấu ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng và có tác động đến an toàn của hệ thống ngân hàng nhưng trong “bức tranh sức khỏe” của hệ thống ngân hàng hiện nay thì vẫn có những tín hiệu tích cực, trong đó phải kể đến tỷ lệ bao phủ nợ xấu có nhiều khả quan. Cho dù tỷ lệ nợ xấu có thể tăng nhanh hơn tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của hệ thống ngân hàng, tuy nhiên cho đến nay, khả năng có thể xử lý nợ xấu của các ngân hàng cũng đã được gia tăng đáng kể.

Theo đúng kế hoạch, việc tái cơ cấu nợ sẽ được kết thúc vào 30/6. Việc kết thúc này là kịp thời, bởi nếu Việt Nam tiếp tục gia hạn tái cơ cấu nợ ngân hàng thì gánh nặng nợ xấu sẽ tiếp tục gia tăng, cho dù việc dừng lại quá trình cơ cấu có thể sẽ tác động đến hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi.

Hệ thống ngân hàng trong thời gian qua đã hỗ trợ kịp thời, nhất là hỗ trợ doanh nghiệp trước khủng hoảng của đại dịch Covid, nên cũng đã đến lúc cần chia sẻ hơn nữa giữa việc sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc hỗ trợ phục hồi kinh tế. Gói hỗ trợ mà Quốc hội thông qua vào tháng 1/2022 cho thấy các biện pháp tài khóa đã và sẽ được sử dụng nhiều hơn để có thể giảm bớt áp lực lên hệ thống ngân hàng

Trong báo cáo mới nhất công bố ngày 13/5, ADB đánh giá triển vọng phục hồi kinh tế ở Đông Nam Á rất đáng khích lệ trong bối cảnh hậu đại dịch COVID-19, tuy nhiên, không phải là không có rủi ro dai dẳng. Đối với VN, triển vọng và những rủi ro đó như thế nào và cần phải làm gì để giải quyết các vấn đề này, thưa ông?

ADB đánh giá triển vọng kinh tế khu vực Đông Nam Á nhìn chung là tích cực. Riêng đối với Việt Nam, ADB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng 6,5%. Đối với các nền kinh tế trên thế giới thì vấn đề lạm phát được đánh giá là rủi ro lớn nhất, tuy nhiên với khu vực Đông Nam Á  thì mức lạm phát không vượt quá 5 %, đây là mức lạm phát chịu đựng được.

Có nhiều lý do để mức lạm phát của các nước Đông Nam Á không cao. Đó là do mức độ đứt gãy chuỗi cung ứng không nặng nề như các nước đang phát triển, mức độ này được đo bằng thời gian phân phối hàng hóa diễn ra nhanh hơn so với các nước đang phát triển. Một số nước, trong đó có Việt Nam, không bị phụ thuộc nhiều nguồn cung lương thực thực phẩm nhập khẩu.

Một lý do rất quan trọng là gói “kích cầu” của các nước châu Á nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng so với các nước phát triển cũng nhỏ hơn, nên việc tác động đến lạm phát cũng nhẹ hơn so với các nước phát triển. Những lý do này khiến tỷ lệ lạm phát của các nước Đông Nam Á thấp hơn so với các nước phát triển, tuy nhiên không phải là không có rủi ro lạm phát và vẫn có những điều khó lường có thể xảy ra.

Bên cạnh đó, Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ- FED tăng lãi suất quá nhanh và quá mạnh gây đảo chiều dòng vốn, khiến cho đồng nội tệ của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam bị mất giá và điều này được đánh giá cũng là một rủi ro lớn.

Theo dự báo thì  cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế thế giới có thể diễn ra vào cuối năm 2022 và 2023 sẽ tác động mạnh vào nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu của các thị trường lớn. Điều đó sẽ có tác động mạnh đến xuất khẩu của các nước Đông Nam Á, đặc biệt đối với Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều nhận định cho rằng, dự báo về suy thoái kinh tế thế giới là hơi thái quá, cho dù khả năng đó có thể xảy ra nhưng mức độ như thế nào vẫn là câu hỏi lớn, bởi suy thoái toàn cầu sau khi phục hồi mạnh mẽ có thể nói là điều hiển nhiên. Cú “sốc” trước đại dịch Covid 19 đã dẫn đới tới cú “sốc” về phản ứng chính sách rất mạnh, các gói kích cầu của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển được gia tăng, tạo ra dòng vốn rất lớn để “bơm” vào cho các nền kinh tế trong một thời gian rất ngắn. Chưa bao giờ dòng vốn “bơm” vào để tránh cho sự đổ vỡ và phục hồi kinh tế lại nhanh và mạnh mẽ như thế. Khi các nền kinh tế đã đi vào phục hồi thì việc tác động tới lạm phát là một điều dễ hiểu. Các ngân hàng trung ương của các nước phát triển buộc phải có biện pháp siết chặt một cách mạnh mẽ và nhanh chóng thì sẽ dẫn tới “giảm tốc”, nhưng sẽ tiếp tục phục hồi. Nói chính xác thì chưa hẳn là suy thoái kinh tế mà là hiện tượng “giảm tốc” thì phù hợp hơn.

Ẩn số ở đây chính là vấn đề địa chính trị mà điều này rất khó dự đoán, đặc biệt là cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina.

Đối với nền kinh tế Việt Nam, mặt tích cực là sẽ hạn chế được mức lạm phát và mặt không tích cực là giảm xuất khẩu. Tuy nhiên, ở bất cứ mặt nào thì nội lực của nền kinh tế Việt Nam vào thời điểm cuối năm 2022 và 2023  vẫn đủ mạnh để chịu tải được hai cái tác động đó.

Theo ông, những ngành/lĩnh vực nào của Việt Nam sẽ hồi phục nhanh và bền vững cũng như sẽ còn nhiều khó khăn trong thời gian tới?

Những lĩnh vực nào phụ thuộc vào xăng dầu trực tiếp chắc chắn sẽ bị tác động mạnh, trong đó lĩnh vực giao thông vận tải sẽ là ngành bị tác động nặng nề. Ngoài ra, logistics và các dịch vụ ăn theo vận tải cũng bị tác động mạnh mẽ. Những ngành/lĩnh vực liên quan đến xuất khẩu sẽ tiếp tục phát triển, như  công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp… Du lịch, dịch vụ nội địa cũng sẽ tiếp tục khởi sắc. Nhưng cũng cần chú ý là lạm phát gia tăng sẽ tác động mạnh đến nhu cầu của các thị trường nhập khẩu của Việt Nam.  Vì vậy, xuất khẩu có thể bị ảnh hưởng trong 6 tháng cuối năm. Các động thái dần bình thường hóa quan hệ thương mại Mỹ Trung cũng có thể sẽ phần nào hạn chế dần sự thâm nhập của hàng hóa Việt Nam vào các thị trường lớn, đặc biệt là Mỹ.

Ông có thể cho biết kế hoạch hợp tác và hỗ trợ của ADB đối với VN cũng như các doanh nghiệp trong thời gian tới?

ADB sắp thông qua chiến lược đối tác với Việt Nam với hai trụ cột chính: hỗ trợ Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, phục hồi kinh tế, tăng trưởng xanh; và hỗ trợ Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong việc tiếp tục là đầu tàu, động lực tăng trưởng cho nền kinh tế. Ngoài hai trụ cột chính, có năm ưu tiên xuyên suốt: đó là hợp tác khu vực; giới; tài chính xanh; tăng trưởng số; tăng cường năng lực quản trị.

Đối với ưu tiên thứ nhất là hỗ trợ tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, ADB có kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp như cho vay không bảo lãnh về năng lượng tái tạo, áp dụng công nghệ, tăng cường sử dụng hiệu quả năng lượng như cho doanh nghiệp vay các dự án củng cố, mở rộng truyền tải năng lượng, áp dụng khoa học công nghệ trong việc giảm thải các bon, làm xe điện ô tô điện …

Đối với trụ cột thứ hai về hỗ trợ các doanh nghiệp, kể cả DN nhà nước và tư nhân, ADB tiếp tục hỗ trợ cải tổ doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu, đặc biệt trong các dự án đối tác công - tư. Đối với lĩnh vực tài chính, ADB chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong việc thực hiện tài chính xanh. Trong lĩnh vực y tế, ADB tập trung hỗ trợ mở rộng cơ sở hạ tầng tại các bệnh viện và các lĩnh vực trong bảo hiểm xã hội thông qua các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn:  Vietnam Business Forum