Nhiều cơ hội cho ngành công nghiệp mỏ Việt Nam

10:35:13 | 12/12/2012

Đó là thông tin được đưa ra tại Hội nghị Khoa học kỹ thuật mỏ toàn quốc lần thứ 23: “Chiến lược phát triển khoáng sản Việt Nam- Từ tầm nhìn đến hành động” vừa được tổ chức ngày 5/12 tại Hà Nội. Sự kiện nhằm khuyến khích và thúc đẩy ứng dụng những công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực khai thác mỏ tại Việt Nam.

Thực tế cho thấy nhu cầu về thị trường xuất khẩu gia tăng đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết của Việt Nam về máy móc và khai thác mỏ. Theo thống kê, hai tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu 102,3 nghìn tấn quặng và sản, trị giá 24,8 triệu USD, tăng 34,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu khoáng sản trong nước và trên thế giới vẫn duy trì ở mức cao, đặc biệt là từ các quốc gia đang phát triển với những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các công ty trong nước là Trung Quốc và các nước Châu Âu. Sự quan tâm của các nhà đầu tư đến ngành khai thác mỏ, Việt Nam đang kỳ vọng vào việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan và Singapore.

Bên cạnh đó, việc thông qua Luật Khoáng sản có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 đã củng cố thêm niềm tin và sự quan tâm của các công ty khai mỏ nước ngoài và các nhà đầu tư ngành mỏ trong các triển vọng lâu dài của Việt Nam đối với ngành này. Thị phần của ngành mỏ trong các khoản FDI có liên quan tại Việt Nam cũng tăng lên một cách đáng kể. Thống kê cho thấy số lượng các doanh nghiệp tham gia vào ngành khai mỏ đã tăng từ 427 công ty(vào năm 2000) tăng lên tới gần 1400 doanh nghiệp vào thời điểm hiện tại. Trong đó, khai thác mỏ làm vật liệu xây dựng chiếm gần 1.200 doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này.

Tại hội thảo, đa số các chuyên gia đều nhận định, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành công nghiệp mỏ. Đây cũng là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất và ổn định về ngành thi công, xây dựng và khai thác mỏ tại Châu Á. Các tiềm năng có thể kể đến là: Công nghệ khai thác; tuyển và chế biến than; Công nghệ và thiết bị khai thác Bôxit, chế biến nhôm; Các dịch vụ tư vấn… Việc khai thác khoáng sản rắn và than đá tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong 5 năm trở lại đây. Dự trữ khóang sản giàu có của Việt Nam bao gồm Bôxit và nhiều khoáng sản tiềm năng như sắt, vàng, Vonfram, đất hiếm vẫn chưa được khai thác rộng rãi. Năm ngoái giá trị thu được từ khoáng sản và việc sản xuất các sản phẩm từ khoáng sản đạt gần 25 triệu USD.

Về triển vọng trong ngành than, các đại biểu cho rằng, nhu cầu về điện tăng mạnh và yêu cầu về than công nghiệp đặc biệt là từ các ngành xi măng và vật liệu xây dựng đã tiếp thêm cho sự phát triển của ngành than. Tuy nhiên vì các nguồn thủy năng của quốc gia được khai thác gần hết và nguồn tài nguyên khí có hạn, Việt Nam sẽ phải phụ thuộc nhiều vào các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than trong những năm tới. Ngành điện được dự báo sẽ là ngành tiêu thụ than nhiều nhất trong giai đoạn 2010- 2014. Việt Nam cũng đang xem xét việc gia tăng sản xuất nguồn dự trữ antraxit (than gầy) chất lượng cao theo chiều sâu, từ đó tạo bước đệm cho việc khai thác mỏ nặng và công nghệ máy móc, thiết bị phụ kiện và các dịch vụ có liên quan.

Theo ông Trần Xuân Hòa – Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội KH&CN Mỏ Việt Nam, những kết quả đạt được trong công nghiệp mỏ nước ta những năm gần đây do nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản nhất là chúng ta đã mạnh dạn nghiên cứu áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất mỏ nhằm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, giảm tổn thất tài nguyên, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ môi trường sinh thái. Công nghệ mới được áp dụng cũng đã làm đa dạng hoá sản phẩm, tăng giá trị khoáng sản thương phẩm mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp khai thác khoáng sản và cả nền kinh tế quốc dân. Ông Hòa cũng nhấn mạnh thêm, khi nguồn tài nguyên về nhân lực được phát huy thì mỗi một sản phẩm của công nghiệp mỏ đều mang trong nó một hàm lượng trí tuệ cao hơn trước đây rất nhiều và khoa học, công nghệ đang trở thành lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp khai thác khoáng sản và cả nền kinh tế.

Tuy nhiên, các đại biểu cũng cho rằng, bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế trong nước đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, thậm chí chưa thoát khỏi suy thoái do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thời kỳ trước 2010 còn kéo dài, đặc biệt là ảnh hưởng của vấn đề nợ công trong khối các nước đồng tiền chung Châu Âu nên ngành công nghiệp mỏ cũng không tránh khỏi những khó khăn chung đó. Bên cạnh đó, xét trên quan điểm phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế - xã hội, thực trạng ngành công nghiệp khai khoáng nước ta còn có những vấn đề bất cập. Công tác lập và thực hiện chiến lược, quy hoạch khoáng sản nhiều yếu kém gây hậu quả nghiêm trọng cho việc quản lý, cấp phép, đầu tư, khai thác và sử dụng khoáng sản. Tình trạng cấp phép tràn lan và khai thác không đúng quy định tiếp tục gây ra nhiều hệ lụy đối với cuộc sống người dân và môi trường, cảnh quan khu vực để lại nhiều hậu quả lâu dài.

Để khắc phục tình trạng trên, cần sự nỗ lực từ cả phía chính quyền và doanh nghiệp để đảm bảo an toàn trong sản xuất đồng thời bảo về được cảnh quan môi trường xung quanh để “Phát triển khoáng sản một cách bền vững vì sự phồn thịnh của đất nước”.

Các báo cáo tại hội nghị cũng đưa ra những kinh nghiệm và bài học trong công nghệ khai thác lộ thiên, hầm lò, xây dựng mỏ, tuyển chế biến và sử dụng khoáng sản, cơ điện và an toàn, môi trường trắc địa, địa chất thuộc ngành than, ngành quặng, vật liệu xây dựng, sa khoáng ven biển và khai thác dầu khí; “Ngành khai khoáng Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững tăng trưởng xanh”; “Ứng dụng nghiên cứu di sản địa chất trong quy hoạch khai thác mỏ ở Việt Nam”…

Về chiến lược phát triển khoáng sản Việt Nam trong thời gian tới, ông Trần Xuân Hòa khẳng định, trong những năm tới do nhu cầu phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp mỏ Việt Nam cần phải tiếp tục tiến hành nghiên cứu và khai thác nhiều loại khoáng sản quan trọng với quy mô lớn như đồng Sin Quyền, sắt Thạch Khê, bauxit Đắc Nông và Lâm Đồng, than Đồng Bằng Bắc Bộ và một số mỏ dầu khí mới trên thềm lục địa. Ngoài ra do nhiều loại khoáng sản truyền thống cũng dần đi vào giai đoạn không còn thuận lợi như những năm trước đây; điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật phải đi trước, suy nghĩ về các giải pháp khoa học, công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả của công nghiệp mỏ Việt Nam.

Hà Vũ