11:12:38 | 4/2/2013
Kinh doanh đa ngành là một hình thức kinh doanh, là một sự lựa chọn của nhiều công ty. Nhưng quan điểm về kinh doanh đa ngành có sự khác nhau giữa công ty nhà nước và công ty ngoài nhà nước.
Xu hướng kinh doanh đa ngành ở các nước tư bản phát triển
Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức.., vào khoảng những năm 1950 có rất nhiều công ty kinh doanh đa ngành. Nhưng gần đây xu hướng kinh doanh đa ngành ở những nước này đang giảm dần. Do những nước công nghiệp phát triển có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng chính sách tốt, trình độ chuyên môn, sự chuyên nghiệp cao theo từng ngành, dẫn đến điều kiện gia nhập ngành rất khó. Khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ cao thì thị trường bắt đầu bão hòa về sản phẩm, dịch vụ. Để tạo sự khác biệt trong sản phẩm, dịch vụ, các công ty trước khi thành lập phải chuẩn bị kỹ, đủ các nguồn lực để tập trung kinh doanh tồn tại và phát triển một ngành. Khi phát triển gặp rất nhiều khó khăn như rào cản đến từ các đối thủ cạnh tranh, những yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của khách hàng. Nên họ phải tập trung mọi nguồn lực để phát triển mạnh một ngành. Mặt khác, ở các nước này có xu hướng kinh doanh có trọng điểm, tập trung một ngành để bảo tồn giá trị cổ phiếu. Việc phân tích tình hình hoạt động trong các công ty kinh doanh đa ngành phức tạp, khiến nhà đầu tư gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu, đánh giá lợi thế, doanh thu từng ngành cụ thể. Do đó nhà đầu tư thường muốn mua cổ phiếu ở những công ty riêng biệt, kinh doanh xuất sắc trong một lĩnh vực. Mặc dù có xu hướng giảm, nhưng trên thực tế vẫn đang tồn tại rất nhiều công ty, tập đoàn lớn kinh doanh đa ngành phát triển rất mạnh và có ảnh hưởng trên thị trường như Samsung, Yamaha, Sony, Honda, AT&T…
Kinh doanh đa ngành ở Việt Nam
Đối với các công ty nhà nước, Việt Nam đang dựa vào kinh tế nhà nước là chủ đạo, xây dựng các tập đoàn kinh tế thành “quả đấm thép”, là công cụ ổn định kinh tế vĩ mô. Nhưng thực tế hiện nay cho thấy tình trạng kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, lãng phí, thua lỗ, thất thoát của các tập đoàn kinh tế nhà nước là nguyên nhân dẫn đến đầu tư cao nhưng hiệu quả thấp, nợ công tăng lên, các tập đoàn độc quyền tăng giá không kiểm soát, làm tăng chi phí, giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là chủ đạo đang bộc lộ những yếu kém. Việc sử dụng doanh nghiệp nhà nước làm công cụ điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô là không có cơ sở, xét cả trên lý luận và thực tiễn. Chúng ta cần phải thay đổi quan điểm, kiên định với nguyên tắc nhà nước chỉ làm những gì mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm khi đã được tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ phía nhà nước. Không sử dụng doanh nghiệp nhà nước là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay để giải quyết các vấn đề xã hội, và không sử dụng doanh nghiệp nhà nước làm đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hình thức thâm dụng vốn đầu tư lớn. Hiện nay doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành rất tràn lan, và thời gian gần đây chính phủ cũng đã nhận thấy sự bất cập, không hợp lý, và đã chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thoái vốn khỏi những ngành nghề kinh doanh mà không liên quan đến ngành nghề chính, phải tập trung vào những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính. Bên cạnh đó, bản chất doanh nghiệp nhà nước là nhận tiền của nhà nước để thực hiện nhiệm vụ được giao. Do vậy phải tập trung kinh doanh, phát triển mạnh ngành nghề chính được giao, trở thành những tập đoàn, công ty lớn mạnh trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
Đối với các công ty ngoài nhà nước, hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua thời kỳ tích lũy tư bản chủ nghĩa. Với hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất, chính sách còn yếu, chưa đồng bộ; Trình độ nhận thức và chuyên môn của người dân chưa cao; Trình độ chuyên nghiệp theo từng lĩnh vực còn thấp nên điều kiện ra nhập ngành dễ. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có cơ chế đặc thù, vẫn còn phổ biến hình thức xin cho. Doanh nghiệp mở rộng ngành, lĩnh vực kinh doanh phần lớn dựa vào nguồn vốn vay và quan hệ. Mặt khác các công ty ngoài quốc doanh có thể linh hoạt sử dụng số tiền của chính mình, họ biết phải làm gì với số tiền của họ. Kinh doanh đa ngành mang lại rất nhiều những ưu điểm và phù hợp với đặc thù nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Do vậy rất nhiều các doanh nghiệp ngoài nhà nước bao gồm cả doanh nghiệp quy mô vừa và quy mô lớn kinh doanh đa ngành. Một yếu tố nữa cũng dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phổ biến kinh doanh đa ngành, đó là sự hạn chế về năng lực, trình độ của đội ngũ chủ doanh nghiệp và lãnh đạo trong các doanh nghiệp tại Việt Nam. Kết quả điều tra hơn 63.000 doanh nghiệp trên cả nước thời gian vừa qua cho thấy: 43,3% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số chủ doanh nghiệp có trình độ thạc sĩ trở lên chỉ chiếm 2,99%. Đa số các chủ doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kinh tế, kiến thức quản trị kinh doanh,…nên hạn chế về tư duy chiến lược dài hạn, kinh doanh mang nặng tính tự phát, theo phong trào và suy nghĩ ngắn hạn, dẫn đến phần lớn các doanh nghiệp tư nhân hiện nay đang kinh doanh đa ngành.
Kinh tế Việt Nam đang hướng đến một nền kinh tế phát triển mạnh, bền vững, cùng với đó thì xu hướng kinh doanh đa ngành sẽ giảm dần. Kinh doanh đa ngành xét về phương pháp luận kinh tế thì không chuyên nghiệp, nhưng thực tế ở Việt Nam vẫn đang tồn tại phổ biến hình thức kinh doanh này. Đa ngành là một hình thức phát triển của doanh nghiệp, việc xác định mức độ đa ngành vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Có nhiều nghiên cứu về đa ngành, tuy nhiên chưa có lý thuyết nào chỉ ra mối tương quan giữa đa ngành và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, nếu nói đa ngành ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh, đến thương hiệu sẽ là kết quả vội vàng.
Điều kiện bảo đảm hiệu quả kinh doanh đa ngành
Mở rộng lĩnh vực kinh doanh phải dựa trên năng lực cốt lõi, phù hợp với năng lực của công ty, định vị công ty tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi và hoạt động tốt trong lĩnh vực này. Điều này được thể hiện rõ trong định hướng chiến lược và tầm nhìn, cũng như thể hiện ở sự đầu tư về chuyên môn và năng lực trong mỗi công ty. Đa ngành phải nhạy bén, năng động trong việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh, theo khả năng đầu tư, nguồn lực, sự hiểu biết và nhận định của công ty về tiềm năng tăng trưởng của những lĩnh vực đó. Sự mở rộng có cơ sở là nguyên nhân cốt lõi tạo nên thành công nối tiếp của công ty.
Cùng với đó, mở rộng lĩnh vực kinh doanh phải dựa trên năng lực điều hành của CEO. Việc lựa chọn mở rộng ngành nghề kinh doanh phải bắt đầu từ lãnh đạo cấp cao nhất, thể hiện sự tiên phong, ý chí quyết tâm, và tinh thần đồng lòng thay đổi để hướng phát triển về chung một mục tiêu. CEO sẽ dựa trên việc đánh giá môi trường bên trong, bên ngoài và mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp để chọn lựa chính xác cần phải mở rộng ngành nghề kinh doanh nào là phù hợp nhất. Bên cạnh đó, CEO cũng phải chú ý tới hai nhiệm vụ quan trọng là: quản trị tốt quá trình thay đổi và truyền thông hiệu quả để tìm sự đồng thuận của toàn thể cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp; xem việc mở rộng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh như là một dự án, và tư duy theo phương pháp quản trị dự án, trong đó, việc chọn người chủ nhiệm dự án, giám đốc dự án phải được cân nhắc thật kỹ.
Kinh doanh đa ngành cần áp dụng những phương pháp quản trị phù hợp: Nhà quản trị phải biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu kinh doanh đề ra. Quản trị có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản trị. Vận dụng các phương pháp quản trị phù hợp sẽ quyết định đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp, đến sự hoàn thành hay không hoàn thành trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ. Có nhiều phương pháp quản trị, mỗi một phương pháp có thể phù hợp hơn với một loại hình doanh nghiệp, một đặc thù của doanh nghiệp. Nhà quản trị điều hành hoạt động doanh nghiệp ở mỗi ngành, mỗi vùng phải khác nhau, phải linh hoạt và phù hợp. Quản trị cấp cao có thể vận dụng phương pháp MBO, quản trị cấp trung gian và cấp thấp có thể vận dụng các phương pháp quản trị khác như quản trị theo quá trình hay quản trị theo tình huống, tùy đặc thù của ngành và tập quán vùng miền… Quản trị cấp cao có thể vận dụng phương pháp MBO vì nhà quản trị cấp cao không có nhiều thời gian và đủ sức để quan tâm sâu, chi tiết tới từng ngành, lĩnh vực kinh doanh ở nhiều vùng miền khác nhau. Còn quản trị cấp trung gian và quản trị cấp thấp có thể vận dụng phương pháp quản trị theo quá trình hay quản trị theo tình huống… vì nó có thể giải quyết các vấn đề về chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quan tâm tới vấn đề về khách hàng, đối tác…
Ngoài ra phải xây dựng những chiến lược cho công ty, cho từng lĩnh vực kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn phù hợp với từng thời kỳ. Doanh nghiệp phải có những quyết định chiến lược phát sinh trong điều kiện hoàn cảnh mới mà không được dự tính trước. Mục đích của các chiến lược mới phát sinh này là để hướng tổ chức theo những mục tiêu đã định trước khi môi trường thay đổi.
Thứ Sáu, ngày 10/04/2026
Online qua Zoom
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)