Việt Nam – Nhật Bản: Quan hệ đối tác chiến lược và hữu nghị

09:11:54 | 3/9/2013

Ông Yasuaki Tanizaki, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam, Trưởng Ban tổ chức “Năm hữu nghị Nhật-Việt”, nhấn mạnh rằng năm 2013 là một dấu mốc vô cùng quan trọng đối với Nhật Bản và Việt Nam, khi mà hai nước long trọng tiến hành hàng loạt các hoạt động kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (21/9/1973 – 21/9/2013), cũng như đang nỗ lực đưa mối quan hệ đối tác chiến lược và hữu nghị lên tầm cao mới. Nam Phạm thực hiện.

Xin ông cho biết đánh giá chung về mối quan hệ hợp tác và phát triển giữa Nhật Bản và Việt Nam trong 40 năm qua?

Chúng ta rất vui mừng khi chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ mối quan hệ song phương Nhật Bản-Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam. Trong 40 năm qua, Nhật Bản và Việt Nam đã vượt qua một số khó khăn và thử thách, từng bước đưa quan hệ hai nước phát triển vững chắc và sâu rộng để đạt được lợi ích chiến lược chung của chúng ta: đó là hòa bình, thịnh vượng và ổn định của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Cách đây hơn hai thập kỷ, Việt Nam đã nhanh chóng mở cửa nền kinh tế, đồng thời Nhật Bản cũng nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam, xây dựng được mối quan hệ hợp tác hiệu quả. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến thăm chính thức tới Nhật Bản năm 2006 đã cùng Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ký một thỏa thuận vô cùng quan trọng, đó là Hiệp định đối tác chiến lược Nhật Bản-Việt Nam, một khuôn khổ cho Chính phủ và doanh nghiệp hai nước đẩy mạnh quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Kể từ đó, chúng ta đã có được mối quan hệ toàn diện, đặc biệt là ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đã tăng khoảng 3 lần và vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam gia tăng mạnh mẽ. Và 7 năm sau đó, vào tháng 1 năm 2013, Thủ tướng Shinzo Abe và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố khởi động “Năm hữu nghị Nhật Bản-Việt Nam”. Việc Thủ tướng Shinzo Abe chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên của chuyến công du nước ngòai của mình ngay sau khi nhậm chức cũng đã làm cho nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế có những ấn tượng mạnh mẽ về tầm quan trọng và sự phát triển của mối quan hệ tốt đẹp giữa Nhật Bản và Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (bên phải) tiếp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản vào tháng 1/2013

Mối quan hệ tốt đẹp như vậy đã được vun đắp trên cơ sở sự quan tâm và mong muốn mạnh mẽ của người dân hai nước, vì thế cũng có thể nói hai nước đã trở thành đối tác của nhau một cách hết sức tự nhiên. Với mong muốn như vậy, trong 40 năm qua, những người đi trước đã có nhiều hoạt động hợp tác và giao lưu để vun đắp cho quan hệ hai nước đạt được thành qủa như ngày hôm nay. Tôi mong muốn chúng ta sẽ tiếp tục cày cấy trên mảnh đất màu mỡ này và ươm thêm những mầm cây mới. Tôi mong rằng nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ, ngày càng hiểu biết về nhau nhiều hơn, làm sâu sắc hơn quan hệ hai nước dưới hình thức mới trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau.

Ông có thể giới thiệu một số thành tựu về quan hệ kinh tế và xu hướng của đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới?

Trong 40 năm qua, quan hệ kinh tế giữa hai nước đang được phát triển ngày càng về chiều sâu. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy thông qua số lượng hơn 1,100 công ty Nhật Bản là thành viên của Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JBAV). Các doanh nghiệp Nhật Bản nằm ở hai khu công nghiệp lớn nhất tại Việt Nam đã tạo ra hơn 100.000 việc làm cho lao động Việt Nam và còn rất nhiều hơn nữa.

Là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam, Nhật Bản đã hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, đồng thời hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực khác như phát triển nguồn nhân lực, hiện đại hóa của các tổ chức tài chính, và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, phù hợp với Hiệp định về Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (EPA), có hiệu lực từ năm 2009.

Có thể nói rằng, phát triển công nghiệp cùng với nâng cao năng lực liên quan luôn luôn là trung tâm của sự hợp tác song phương và sẽ vẫn là như vậy trong tương lai. Ví dụ, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu hợp tác xây dựng "Chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam đến năm 2020" dựa trên Tuyên bố chung Nhật Bản-Việt Nam đã ký giữa Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda trong năm 2011. Đây là công cụ chính sách quan trọng để tích hợp nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Chiến lược này cũng sẽ nâng cao đáng kể sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam do đó sẽ tạo ra công ăn việc làm trên toàn lãnh thổ. Chính phủ Nhật Bản gần đây cũng đã bắt đầu sử dụng công cụ ODA để khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ của Nhật Bản, là các doanh nghiệp rất mạnh trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, đầu tư ra nước ngoài hơn nữa trong đó có Việt Nam.

Như tôi đã trình bày trên, mt lượng vn FDI ln ca Nht Bn đã đu tư vào Vit Nam trong nhng năm gn đây. Năm 2012, Nht Bn là nhà đu tư nước ngoài ln nht ti Vit Nam, vi tng s vn ca các d án mi cp phép và các d án xin tăng vn khong 5 t USD, chiếm khong gn 40% tng s vn FDI vào Vit Nam. T l phn trăm này rt đáng chú ý và là bng chng rõ ràng cho mi quan h hp tác kinh tế thành công gia Nht Bn và Vit Nam.

Đối với mỗi dự án FDI của Nhật vào Việt Nam, các bạn có thể nhận thấy được những thay đổi tích cực, hiệu quả về chất của các dự án. Hiện có một lượng lớn FDI từ Nhật Bản đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là các khu đô thị sinh thái và phát triển hạ tầng. Tokyu Bình Dương Garden City, dự án phát triển đô thị có tổng số vốn 1,2 tỷ USD do Tập đoàn Becamex và Tập đoàn Tokyu liên doanh, là một ví dụ điển hình cho làn sóng đầu tư mới từ Nhật Bản vào Việt Nam. Ngày càng có nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản đang hướng tới thị trường Việt Nam. Đây là sự dịch chuyển cơ cấu của các dự án FDI Nhật Bản vào Việt Nam.

Chúng tôi hy vọng rằng xu thế đầu tư này sẽ tiếp tục và ngày càng có nhiều vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời Chính phủ hai nước cũng đang nỗ lực để hỗ trợ doanh nghiệp hai bên tích cực đẩy mạnh hợp tác thông qua việc tổ chức đều đặn các diễn đàn doanh nghiệp, các phiên đối thoại chính sách để tháo gỡ, giải quyết những khó khăn, cản trở hoạt động của doanh nghiệp.

Cảm nhận của ông về môi trường kinh doanh tại Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Có cả những thay đổi tích cực và tiêu cực về môi trường kinh doanh trong thời gian gần đây, tuy nhiên những thay đổi tiêu cực chỉ là những vấn đề trong ngắn hạn. Khi tôi nói chuyện với lãnh đạo các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, hầu hết trong số họ đều nhận xét rằng có một số vấn đề khi đưa ra quyết định đầu tư. Trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải một số tác động không tốt như tiến độ chậm chạp trong thủ tục hành chính và ra quyết định, qúa trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra chậm, sự mất cân bằng cung cầu của một số sản phẩm và dịch vụ trong một số lĩnh vực, đặc biệt là thị trường bất động sản.

Có một số vấn đề cốt lõi, cấp bách trong hệ thống ngân hàng mà có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế trong dài hạn. Các nhà đầu tư Nhật Bản đang rất quan tâm tới các giải pháp, cũng như Chính phủ sẽ làm thế nào để giải quyết những vấn đề này. Nếu những vấn đề này không được giải quyết thì trong dài hạn nó sẽ có tác động xấu tới luồng vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam vì khi lựa chọn các địa điểm đầu tư, trước hết họ luôn cân nhắc về các điều kiện thuận lợi. Chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ nguồn vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm gần đây, do vậy chúng ta có thể hy vọng rằng lượng vốn FDI này sẽ tăng hơn nữa trong những năm tới nếu một số vấn đề khó khăn trên được giải quyết.

Việt Nam có nhiều lợi thế trong thu hút FDI như dân số đông và trẻ, nguồn nhân lực có tay nghề, đội ngũ kỹ sư giỏi, an ninh ổn định. Tôi nghĩ Việt Nam là một trong những quốc gia an toàn nhất cho các nhà đầu tư, đây là một điều kiện vô cùng quan trọng trong môi trường kinh doanh.

Xin ông cho biết định hướng đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược trong thời gian tới?

Kể từ khi Hiệp định đối tác chiến lược được ký, chúng ta đã chứng kiến những thành tựu hợp tác rực rỡ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và ODA. Do đó, đây là thời điểm cần thiết cho hai quốc gia hợp tác sâu rộng hơn nữa trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về an ninh. Gần đây, lãnh đạo hai nước đã sẵn sàng nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược hiện tại lên một tầm cao mới. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ chú trọng nhiều hơn nữa vào việc đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác nữa như văn hóa, du lịch, giáo dục…, đây là những lĩnh vực rất quan trọng đối với hợp tác song phương trong dài hạn.

Nhân dịp này, tôi hy vọng rằng “Năm hữu nghị Nhật-Việt” sẽ làm khắc sâu thêm tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới.