Nâng cao vị thế quốc gia

17:03:33 | 10/9/2013

Nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế trong nước cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội thảo tham vấn Đề án xây dựng bộ chỉ số và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia nhằm tìm ra những phương án khả thi và hiệu quả nhất.

Được biết, đây là Đề án được xây dựng theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo bà Nguyễn Lệ Thủy, Phó Vụ trưởng, Phó Chánh Văn phòng Phát triển bền vững, Vụ Khoa học Giáo dục Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong hơn 20 năm qua, Việt Nam đã có nhiều sự biến chuyển lớn lao, đi lên từ một nền kinh tế “bế quan tỏa cảng”, giờ đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu và phát triển mạnh mẽ trong khu vực. Điều này được thể hiện rõ qua mức tăng trưởng hàng năm của Việt Nam, mức sống và thu nhập của người dân được nâng cao, tỷ lệ đói nghèo giảm và ngày càng là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và các nhà lãnh đạo tâm huyết, mặc dù VN đã đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp chấn hưng đất nước, song nội tại nền kinh tế vẫn còn đang tồn tại những thách thức, năng lực cạnh tranh còn yếu trên nhiều mặt. Cụ thể, năng lực cạnh tranh Việt Nam được đánh giá và xếp hạng ở mức khiêm tốn, thường thấp hơn so với các nước trong khu vực. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững là nội dung quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế Việt Nam.

Trước những yêu cầu bức thiết đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã sớm chủ trì và xây dựng bộ Đề án xây dựng Bộ chỉ số và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam. Theo các chuyên gia trong ngành, việc xác định bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam nhằm phục vụ hoạt động đánh giá thường niên về năng lực cạnh tranh quốc gia; nhận diện các vấn đề và thách thức đối với năng lực cạnh tranh, từ đó kiến nghị chính sách cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (CIEM) cho biết, để thực hiện được Đề án xây dựng bộ chỉ số và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham khảo phương pháp và hệ thống các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của các tổ chức và quốc gia trên thế giới như Diễn đàn kinh tế thế giới, Viện Phát triển quản lý quốc tế Thụy Sĩ, Liên minh châu Âu và Hội đồng năng lực cạnh tranh của Ai-len. Ngoài ra, đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với mô hình các nhân tố nền tảng năng lực cạnh tranh theo quan điểm của giáo sư Michael E. Porter của Đại học Harvad - người đã từng chắp bút cho Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam năm 2010. Do đó, phương pháp đánh giá của WEF cũng phù hợp với Việt Nam.

Theo đó, Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia được đưa ra bao gồm 12 bộ chỉ số, chia ra làm 3 nhóm: Nhóm chỉ số cơ bản, bao gồm: Thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y học và giáo dục tiểu học; nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả, bao gồm: đào tạo và giáo dục bậc cao hơn, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường; nhóm chỉ số các nhân tố đổi mới và tinh thông, bao gồm: tinh thông trong kinh doanh, đổi mới trong nghiên cứu và phát triển.

Nhìn từ góc độ nhà nghiên cứu, ông Cung cho biết, việc xây dựng Báo cáo chuyên sâu về năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam có thể thực hiện theo hai phương án. Phương án 1, dựa trên khung đánh giá năng lực cạnh tranh theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới, tập trung phân tích sâu thực trạng các nhân tố thuộc nhóm các yếu tố nâng cao hiệu quả. Theo phương án này có 6 nhóm yếu tố được tập trung phân tích sâu gồm đào tạo và giáo dục bậc cao; Hiệu quả thị trường hàng hóa; Hiệu quả thị trường lao động; Sự phát triển của thị trường tài chính; Mức độ sẵn sàng về công nghệ; Quy mô thị trường.

Phương án 2 cũng dựa trên khung đánh giá năng lực cạnh tranh theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới và bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh. Thông tin và dữ liệu về bộ chỉ số được thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát ý kiến từ các Bộ, ngành, doanh nghiệp và chuyên gia. Việc thực hiện khảo sát là để xác định 20 chỉ số quan trọng nhất cần được cải thiện. Từ đó, báo cáo năng lực cạnh tranh tập trung phân tích sâu nhóm 20 chỉ số này và kiến nghị chính sách nhằm cải thiện các chỉ số đó.

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh tòan cầu 2013 – 2014 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố ngày 3/9, năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã tăng 5 bậc, xếp hạng 70/148. Trong khi đó ngôi vị số 1 thế giới vẫn thuộc về Thụy Sỹ. Nhận định về vấn đề này, WEF cho rằng, với việc tăng được 5 bậc, xếp hạng 70, Việt Nam đã giành lại được một nửa thứ hạng đánh mất hồi năm ngoái. Sự vượt bậc này được WEF giải thích là do môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã tốt hơn (hạng 87, tăng 19 bậc) - sau khi “nhảy” lên mức gần 20%, lạm phát đã trở lại với mức một con số trong năm 2012 – và sự cải thiện trong chất lượng hạ tầng giao thông, dù vẫn còn ở mức rất thấp (hạng 82, tăng 13 bậc).

Từ thực tiễn cũng như sự đánh giá của WEF, các chuyên gia cho rằng, việc xây dựng bộ chỉ số và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam không phải là báo cáo xếp hạng mà tiến tới phải là một công cụ hỗ trợ đắc lực giúp tư vấn Chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô, tập trung các vấn đề cần cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường toàn cầu.

Anh Phương