Chủ động và linh hoạt hơn để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
10:32:48 | 1/3/2018
Bước sang 2018 với những cơ hội và thử thách mới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động, linh hoạt hơn trong hội nhập.
Cơ hội rất nhiều…
Việt Nam luôn thuộc nhóm tham gia nhiều FTA nhất trên thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tham gia 14 FTA. Trong đó, quan trọng đối với Việt Nam như các FTA trong khuôn khổ ASEAN, giữa ASEAN mà Việt Nam là thành viên với các quốc gia khác như ASEAN +1, ASEAN +3 hoặc các FTA trực tiếp ký với các quốc gia khác như với Nhật Bản, Hàn Quốc. Có thể nói, đây là đòn bẩy cho tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới.
Các FTA đã góp phần tích cực trong việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và có nhiều cải cách về mặt chính sách, đặc biệt là thuế và thủ tục hành chính.
Theo Bộ Công Thương, nếu thuế suất trung bình giữa các nước là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ 5 - 25% thì thuế suất trung bình trong các cam kết FTA thấp hơn rất nhiều, chỉ từ 0 - 5%. Tuy nhiên, các cam kết FTA thế hệ mới không chỉ là thuế đối với hàng hóa, mà còn bao gồm cả việc cung cấp các dịch vụ và một số ngành nghề. Điển hình như Khung thỏa thuận về dịch vụ của ASEAN (AFAS), các thỏa thuận ghi nhận tương đồng (MRA) sẽ mở cửa hoàn toàn nhiều dịch vụ cơ bản quan trọng, cũng như các ngành thực phẩm, linh kiện ô tô, vật liệu xây dựng. Để được hưởng mức ưu đãi thuế quan lý tưởng của các FTA, cách duy nhất là hàng hóa phải đáp ứng được quy tắc xuất xứ được thiết kế riêng cho mỗi FTA.
Hơn nữa, với các cam kết trong FTA, các DN Việt không còn phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước mà có khả năng sẽ huy động được nguồn vốn từ nước ngoài. Đây là cơ hội để các DN giải quyết được khó khăn của mình, thỏa mãn nhu cầu về vốn, lao động, công nghệ và quản lý trong phát triển.
…nhưng nắm bắt cơ hội rất khó
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ, thời gian qua tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA mà Việt Nam đã tham gia chỉ đạt khoảng 35%. Điều này đồng nghĩa với việc 65% số hàng hóa còn lại phải chịu thuế cao hơn so với mức thuế ưu đãi từ các FTA là 0 - 5%.
Với việc Hiệp định TPP và EVFTA không đúng lộ trình như mong đợi, Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi. Khả năng thu hút hợp đồng gia công dệt may từ các công ty của Hàn Quốc, Nhật Bản xuất hàng đi EU, Mỹ sẽ khó khăn hơn,, hy vọng thay thế Trung Quốc trong chuỗi cung ứng ngày càng mong manh. Còn đối với các mặt hàng nông-lâm-thủy sản, việc hạn chế thị trường xuất khẩu sẽ khiến Việt Nam ở thế yếu trong việc đàm phán các điều kiện thương mại.
Nguy cơ khi đó đối với các doanh nghiệp nội địa là rất lớn, chỉ có những doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh nội tại mới tồn tại được, nếu không sẽ bị cuốn theo làn sóng sáp nhập hợp nhất. Quan trọng hơn nữa, khi thị trường nội địa bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp nước ngoài, khả năng sụt giảm nguồn thu thuế sẽ tăng cao, khó có thể điều tiết được thị trường trong trường hợp cần thiết.
Không những thế, mỗi FTA đều có những quy định về xuất xứ hàng hóa riêng. Ông Trần Thanh Hải cho biết, với các FTA cũ, tỷ lệ tận dụng còn thấp thì với các FTA mới với những điều khoản phức tạp và chặt hơn nhiều. Vì thế, nếu không có các chương trình tập huấn kịp thời và thường xuyên, bản thân doanh nghiệp không chủ động cập nhật thông tin và trang bị kiến thức thì việc cải thiện tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA, nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ không khả thi như kỳ vọng.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Công Thương đề xuất một số giải pháp, đã và đang được thực hiện như cắt giảm thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất và xuất khẩu, cấp chứng nhận xuất xứ online để tiết kiệm thời gian đi lại và chờ đợi cho doanh nghiệp; tham gia Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN. 100% giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa của ASEAN đã được Bộ Công Thương đưa lên thành dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và sẽ đưa lên cấp độ 4 trong thời gian tới.