Viễn cảnh nông nghiệp sạch và an toàn hơn

10:34:14 | 6/4/2018


Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2016, giá trị gia tăng về nông nghiệp thực tế đã tăng trung bình 3,6% mỗi năm. Trong vòng 20 năm, việc mở rộng sản xuất nông nghiệp đã giúp Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành 1 trong 5 nước xuất khẩu gạo, thủy sản, hạt điều… và nhiều mặt hàng khác. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng đi kèm với cái giá cao, dẫn đến ô nhiễm đất, nước và không khí chưa từng có.

Với chủ đề “Thách thức của ô nhiễm nông nghiệp: Bằng chứng từ Trung Quốc, Việt Nam và Philippin”, báo cáo vừa được Ngân hàng thế giới công bố đã khẳng định ô nhiễm nông nghiệp đang được thấy rõ tại Việt Nam. Tại các khu vực trồng trọt thâm canh, nông nghiệp đã trở thành nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm đất, không khí và nước, ước tính khoảng 36% chất thải gia súc đã được thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý, gây ra tình trạng ô nhiễm trang trại, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước. Theo báo cáo, "các chất thải nông nghiệp làm giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước uống tại TPHCM. Một nghiên cứu về nguồn nước (bao gồm nước mặt, nước ngầm, nước mưa…) thực hiện tại Đồng bằng sông Cửu Long còn ghi nhận hơn 12 loại thuốc bảo vệ thực vật vốn được sử dụng trong trồng lúa và các loại hoa màu khác, và nồng độ các chất này đôi khi vượt quá tiêu chuẩn an toàn của Uỷ Ban Châu Âu.




Ô nhiễm không khí do đốt rơm, rạ trong hoạt động nông nghiệp cũng gây ra tình trạng ô nhiễm không khí cao điểm tại một vài nơi trong khu vực.

Bên cạnh đó, có đến hơn 45 loại kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam. Hàm lượng thuốc hoặc hóa chất quá mức trong thực phẩm ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh thực phẩm trong nước và tiếp cận thị trường quốc tế. Tại Việt Nam, nông dân và gia đình thường tiếp xúc trực tiếp với thuốc trừ sâu vì thiếu các công cụ hoặc phương pháp bảo vệ.

Trong một nghiên cứu vào năm 2015 tại ĐBSCL, hơn một nửa mẫu động vật không xương sống bị nhiễm độc tính cấp tính bởi thuốc trừ sâu fipronil, trong khi tỉ lệ bị nhiễm độc tính mãn tính chiếm 77% mẫu khảo sát.

Báo cáo đánh giá, các hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa và chăn nuôi gia súc, đứng thứ hai trong những nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính ở Việt Nam. Chỉ trong năm 2014, các hoạt động nông nghiệp đã đóng góp tới 23% lượng khí nhà kính.

Như vậy, những tác nhân gây ô nhiễm có cả đầu vào và đầu ra của nông nghiệp. Những tác nhân đầu vào bao gồm: phân bón, thuốc trừ sâu và các phương pháp hoá học khác, thuốc và thức ăn, nhiên liệu và nhựa... (Vào năm 2013, cùng với Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam xếp vào top 10 những ngước sử dụng phân bón nhiều nhất. 4 nước này chiếm khoảng gần 1 phần 3 tổng số lượng sử dụng của thế giới). Các tác nhân đầu ra gồm: dư lượng nông nghiệp, nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản và việc dọn dẹp chất thải nông nghiệp, vật chứa bằng nhựa, chất thải chăn nuôi…

Trong bối cảnh này, giải quyết các vấn đề ô nhiễm trong nông nghiệp có thể được coi là “cánh cổng” dẫn đến thực hiện được các mục tiêu phát triển bền vững nói chung của các quốc gia.

Theo WB, một viễn cảnh đầy hy vọng với các giải pháp kỹ thuật sẵn có và ý chí chính trị mạnh mẽ hơn trong việc giải quyết vấn đề này sẽ giúp VN có một nền nông nghiệp sạch và an toàn hơn. Mặc dù có nhiều chất gây ô nhiễm trong nông nghiệp nhưng cũng có nhiều giải pháp kỹ thuật giúp cải thiện quản lý chất thải vật nuôi và cây trồng, và tối ưu hóa việc sử dụng hóa chất, nhựa, thuốc thú y và thức ăn trong nông nghiệp. Nhiều trong số các giải pháp này cũng đem lại cơ hội nâng cao chất lượng và giá trị của nông nghiệp.

Bà Laura Tuck, Phó Chủ tịch về phát triển bền vững của WB cho rằng, đầu tư vào việc ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm là quan trọng nhằm đảm bảo rằng lợi ích thu được từ phát triển trong nông nghiệp là bền vững. Các chính sách và biện pháp kiểm soát ô nhiễm hiệu quả có thể nâng cao lợi nhuận của nông nghiệp và khuyến khích sự phát triển của một ngành công nghiệp thực phẩm cạnh tranh trong khi nâng cao được sức khỏe con người và môi trường.

Hành động phòng chống ô nhiễm có thể tiếp sức cho các ưu tiên chính sách tầm quốc gia mới trong đó có tăng cường an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo thêm giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, nâng cao chất lượng khẩu phần ăn hàng ngày, thu hút một thế hệ mới các nông dân và doanh nhân thực phẩm, và giảm phát thải khí nhà kính để chống lại biến đổi khí hậu.

Báo cáo đưa ra phương thức để khu vực công có thể cải thiện vấn đề này và hướng nguồn lực tới các ưu tiên xử lý ô nhiễm; bắt buộc và tạo động lực cho nông dân có qui mô sản xuất và năng lực khác nhau sản xuất theo các cách hiệu quả hơn; hỗ trợ đổi mới sáng tạo và học hỏi để kiểm soát được thách thức ô nhiễm; và cấu trúc lại khu vực nông nghiệp để tăng trưởng bền vững hơn. Dù kiểm soát ô nhiễm đòi hỏi phải có đầu tư ban đầu, có nhiều giải pháp tạo ra lại cơ hội thành công cho cả việc tăng hiệu quả và giảm tác động xấu.

Tại Việt Nam, nguồn tài chính của Ngân hàng Thế giới sẽ giúp nhân rộng các thực tiễn tốt và sáng tạo về nuôi trồng thủy sản giúp nâng cao năng suất tôm đồng thời giảm ô nhiễm nước cho khoảng 100.000 ha trong vòng 5 năm tới ở Đồng bằng sông Cửu Long, giúp nâng cao sinh kế và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu của nông dân. Ngoài ra, Việt Nam đang nhân rộng việc áp dụng bể phân hủy khí sinh học (biogas) trong hoạt động chăn nuôi và thúc đẩy việc sử dụng phân bón và hóa chất nông nghiệp hợp lý hơn trong nhóm nông dân trồng lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Anh Mai