Tìm cách phát triển thị trường đầu tư khởi nghiệp

11:39:07 | 17/5/2018


Vốn cho khởi nghiệp là vô cùng quan trọng. Nguồn vốn cho khởi nghiệp chính là "bầu sữa” cho khởi nghiệp thành công. Tuy nhiên cần cách thức hợp lý hơn cho “bầu sữa” này phát triển.

Theo TS.Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình Khởi nghiệp Quốc gia, hiện Việt Nam có khoảng 50 quỹ đầu tư với nhiều hình thức đầu tư cho khởi nghiệp nhưng còn tản mạn và quy mô còn nhỏ. Hệ sinh thái mà đặc biệt là hệ sinh thái tạo ra nguồn vốn cho khởi nghiệp còn yếu, vì thực tế vốn cho khởi nghiệp có tính đặc thù.

Ông Lộc cho rằng, để có thể thực hiện hệ sinh thái cho khởi nghiệp, thì vai trò của doanh nghiệp lớn rất quan trọng. Theo đó, doanh nghiệp đi trước sẽ cấp vốn cho nhà đầu tư khởi nghiệp."Họ có nguồn vốn lớn và trong trách nhiệm xã hội của mình thì hỗ trợ khởi nghiệp là một trong những mục tiêu phát triển cộng đồng lớn nhất. Cần đưa vào chương trình hành động, chi tiêu của các doanh nghiệp tập đoàn hàng đầu Việt Nam. Hãy dành ra những phần vốn đầu tư cho khởi nghiệp”, ông Lộc nói.

Ông Từ Minh Hiệu, Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học & công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, tính từ năm 2012 đến nay, lượng vốn đầu tư mạo hiểm vào khởi nghiệp Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực, sau Singapore, Indonesia và Malaysia.

Năm 2017, Việt Nam tiếp nhận 92 thương vụ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (KNST) với tổng số vốn hơn 291 triệu USD tăng gần gấp đôi về mặt số lượng thương vụ và gần 50% về mặt tổng số vốn đầu tư so với năm 2016. Mặc dù có sự tăng trưởng tương đối mạnh mẽ, nhưng nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp KNST tại Việt Nam vẫn tương đối khiêm tốn so với khu vực và trên thế giới. Theo Tech in Asia, năm 2017, khu vực Đông Nam Á đã thu hút 7,86 tỷ USD đầu tư vào khởi nghiệp, như vậy số vốn đầu tư Việt Nam thu hút được chiếm tỷ phần rất nhỏ, chưa đến 5%.  




“Đây vừa là khó khăn vừa là cơ hội cho các start up tại Việt Nam, cho thấy lượng vốn đầu tư mạo hiểm vào khu vực Đông Nam Á khá dồi dào. Nếu thu hút được nguồn vốn này thì thị trường đầu tư mạo hiểm trong nước sẽ phát triển lên rất nhiều”, ông Hiệu nói.

Giá trị đầu tư, giá trị thoái vốn, số lượng đầu tư mạo hiểm đều tăng lên từng năm. Từ năm 2015 đến nay, con số thu hút trong khu vực ASEAN khoản 7,86 tỷ USD. Ở VN, không chỉ có sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần mà còn có sự tham gia của các tập đoàn lớn như Quỹ đầu tư của FPT (FPT Ventures), Quỹ đầu tư của Viettel (Viettel Ventures), Quỹ sáng tạo CMC. Số lượng nhà đầu tư thiên thần ngày càng phát triển về số lượng, các hoạt động cũng như là tạo lập mạng lưới, câu lạc bộ để phát triển các doanh nghiệp start up.
Như vậy, thị trường vốn đầu tư KNST tại Việt Nam đang có những hoạt động đa dạng, tương đối sôi nổi từ cả nguồn vốn trong và ngoài nước. Tuy nhiên, quy mô vốn cũng như sự liên kết, hợp tác trong đầu tư KNST tại Việt Nam vẫn còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của hệ sinh thái KNST Việt Nam.

Theo ông Hiệu, hành lang pháp lý cho hoạt động KNST và đầu tư KNST hiện đang được từng bước hoàn thiện.  Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2016 tại Quyết định số 844/QĐ-TTg là nỗ lực đầu tiên ở quy mô quốc gia về hỗ trợ KNST, bao gồm các giải pháp, hoạt động nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia. Hiện đã có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 quy định các nội dung chính về đầu tư cho KNST bao gồm miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với nhà đầu tư KNST và có cơ chế cho phép địa phương đối ứng đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo với các quỹ đầu tư tư nhân. Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 11/3/2018 về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo đã cho phép việc thành lập quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời, quy định việc sử dụng ngân sách địa phương cùng đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

Bên cạnh đó, Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi năm 2017 cũng đã quy định nội dung cho phép sử dụng quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng đầu tư cho KNST.

Ngoài những chính sách có tác động trực tiếp đến nhà đầu tư, các chính sách liên quan đến phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo nói chung cũng rất được chú trọng trong việc thu hút đầu tư.

Về tiềm năng phát triển của các start up, ông Hiệu cho biết, hiện có khoảng 3000 doanh nghiệp KNST với nhiều lĩnh vực tiềm năng như y tế, nông nghiệp, tài chính… Đối với nguồn vốn trong nước, các tập đoàn lớn có các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp start up. Theo thống kê số lượng tập đoàn lớn có lợi nhuận hàng năm trên 1.000 tỷ đồng năm 2017 lên tới hơn 30 tập đoàn, cùng với rất nhiều doanh nghiệp có lợi nhuận hàng trăm tỷ đồng khác. Song mới có một số ít tập đoàn thực hiện đầu tư vào thị trường này.

Theo ông Lộc, đầu tư một đồng cho khởi nghiệp có thể tạo ra hàng trăm đồng cho xã hội. Do đó, doanh nghiệp nên đưa vào kế hoạch của mình là nguồn đầu tư cho khởi nghiệp là cho sự phát triển đất nước. Nếu thực hiện được sẽ tạo bước phát triển đột phá cho khởi nghiệp thời gian tới. Vai trò của các hiệp hội trong phong trào này cũng  rất lớn, nhất là trong việc thúc đẩy doanh nghiệp tham gia.

Bà Trịnh Thị Hương, Cục phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mục tiêu của Nghị định 38 là nhận diện và ghi nhận hoạt động đầu tư KNST là một ngành, nghề đầu tư kinh doanh; Xác định địa vị pháp lý của các công ty đầu tư KNST, quỹ đầu tư KNST mà hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa quy định; bổ sung thêm sự lựa chọn cho các nhà đầu tư; Đưa ra nguyên tắc chung, quy định khung làm cơ sở pháp lý cho các NĐT tư nhân khi cùng nhau góp vốn thực hiện hoạt động đầu tư KNST thông qua hình thức quỹ đầu tư KNST;  Khơi thông dòng vốn cho KNST thông qua việc khuyến khích thành lập các công ty đầu tư KNST, các quỹ đầu tư KNST, cơ chế sử dụng NSĐP đầu tư cho KNST.

Tại điều 5 của Quỹ đầu tư KNST quy định về quỹ đầu tư KNST không có tư cách pháp nhân, do tối đa 30 nhà đầu tư góp vốn thành lập trên cơ sở điều lệ quỹ. Quỹ đầu tư KNST không được góp vốn vào quỹ đầu tư KNST khác. Cũng theo quy định tại điều 5 thì tài sản góp vốn có thể bằng Đồng Việt Nam, vàng, giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Nhà đầu tư không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập quỹ đầu tư KNST. Đồng thời, tại Danh mục và hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư KNST bao gồm: Gửi tiền tại các NHTM theo quy định của pháp luật; Đầu tư không quá 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo sau khi nhận đầu tư.

Toàn bộ số vốn góp và tài sản của các nhà đầu tại quỹ phải được hạch toán độc lập với công ty thực hiện quản lý quỹ. Các nhà đầu tư góp vốn thành lập quỹ tự thỏa thuận về thẩm quyền quyết định danh mục đầu tư và nội dung này phải được quy định tại điều lệ quỹ và hợp đồng với công ty thực hiện quản lý quỹ (nếu có).

Những điểm mới này sẽ tạo nên sự đột phá trong quá trình khởi nghiệp sáng tạo của nhà đầu tư.

Ông Nguyễn Duy Hiếu, Giám đốc Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam

Có một số start up vẫn  mang tính sao chép nhiều hơn là mang tính sáng tạo mới. Hiện tượng một số startup đi tìm tại các quốc gia khác các mô hình kinh doanh đã được chứng nhận là thành công và khi trở về Việt Nam thay đổi và chỉnh sửa cho phù hợp. Mặc dù việc này có thể đem lại một số hiệu quả ban đầu, tuy nhiên, đây thật sự là hành động "copy cut" chứ không phải đổi mới sáng tạo.

Do đó, khởi nghiệp tại VN vẫn còn nằm trong giai đoạn mới bắt đầu. Cần hiểu đúng về khởi nghiệp và có các chương trình để thúc đẩy, đổi mới trong tư duy là vô cùng cần thiết. Cần học tập mô hình của các nước khác trong cách kiến tạo môi trường để cho sự sáng tạo phát triển hơn là bắt chước mô hình khởi nghiệp.


Luật sư Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch LP Group

Hành lang pháp lý là một trong những điểm nhấn để Việt Nam có thể có được một thị trường đầu tư khởi nghiệp hiệu quả. Dù đã có Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị định 38/2018/NĐ-CP về đầu tư khởi nghiệp sáng tạo nhưng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp vào các hoạt động đổi mới sáng tạo đang gặp khó.

Hiện tại, có 3 cấp độ để nhà đầu tư có thể đầu tư vào doanh nghiệp startup đó là giai đoạn vốn mồi, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn phát triển và mở rộng thị trường.

Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy định về ưu đãi cho nhà đầu tư, đó là miễn giảm thuế theo khoản 3 Điều 18, tuy nhiên theo Nghị định 38/2018 chưa có quy định nào hay văn bản nào  hướng dẫn rõ về các ưu đãi đối với nhà đầu tư sau khi đầu tư vào startup. Quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng, chưa đủ sức “hút” với nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa nhà đầu tư, ngân hàng hay startup như thế nào không nhất thiết phải có sự can thiệp sâu của Luật. Việc ràng buộc mối quan hệ này, vô tình sẽ trở thành rào cản đối với các nhà đầu tư vào startup.

Nếu các mô hình mới đang thành lập một cách nhanh chóng, với tốc độ chóng mặt, thì dòng chảy pháp lý của Việt Nam vẫn đang chật chội và chậm chạp. Trong khi việc thực thi các đề án hỗ trợ chưa có gắn kết với đối tượng được hỗ trợ, chứ chưa nói gì đến gắn kết chặt chẽ như thế nào.

Vì vậy, cần kiến tạo hành lang để doanh nghiệp có thể dễ dàng đầu tư vào khởi nghiệp. Bởi bản thân chính startup có an tâm hay không khi nếu các startup mới ra đời nhưng vướng phải vấn đề pháp lý hoặc nhà đầu tư không thể bơm tiền thì họ biết rằng hành lang pháp lý vẫn còn những rào cản pháp lý?
 


Quỳnh Chi