11:04:30 | 11/1/2011
Trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc không chỉ là nhà thầu lớn nhất Việt Nam chuyên thắng thầu những công trình lớn, mà dòng đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc cũng tăng nhanh trong khi đăng ký FDI tại Việt Nam có xu hướng giảm.
Các thương nhân Trung Quốc luôn được đánh giá là nhanh nhạy, quy mô nền kinh tế Trung Quốc vươn lên vị trí thứ 2 thế giới trong năm qua, và nhu cầu mở rộng thị trường luôn có trong tính toán của các doanh nghiệp Trung Quốc. PGS.TS. Đỗ Tiến Sâm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc cho biết, Trung Quốc hiện là đối tác thương mại của 220 quốc gia, là thầu khoán công trình ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, viện trợ ODA đến 90 nước và đầu tư FDI ở 129 nước. Cả bốn nội dung hợp tác kinh tế này đều có ở Việt Nam.
Nhà thầu lớn nhất Việt Nam
Có thể khẳng định Trung Quốc đang là nhà thầu lớn nhất Việt Nam. Tuy chưa có con số thống kê về tổng giá trị các gói thầu mà doanh nghiệp Trung Quốc nhận ở Việt Nam tính đến thời điểm này, nhưng trong danh sách các dự án tổng thầu, nhiều công trình lớn như dự án Nhiệt điện Hải Phòng, dự án xây dựng nhà máy khai thác và tuyển luyện đồng Sinh Quyền (Lào Cai), dự án nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ, Tân Rai thuộc dự án tổ hợp bauxite nhôm ở Đắc Nông và Lâm Đồng... đều có mặt nhà thầu Trung Quốc. Và con số này sẽ nói lên nhiều điều, năm 2009, trong số 4,15 tỉ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam, có tới 70% là nhập để phục vụ các dự án mà Trung Quốc làm tổng thầu.
Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu thầu khoán công trình (tổng thầu EPC) lấy châu Á là chính, rồi mở rộng sang châu Phi... Cho nên dễ hiểu vì sao các đại công trình tại Việt Nam bao giờ cũng có sự góp mặt của nhà thầu Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc hỗ trợ doanh nghiệp nước họ khi nhận thầu các công trình ở nước ngoài kinh phí đi xúc tiến đầu tư.
Nhà thầu Trung Quốc thắng thầu các công trình lớn, giá rẻ nhưng cái dở nhất lại là thiết bị công nghệ kém. Bộ Công Thương tổng hợp đề này trong nửa cuối năm 2010 - ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng, Bộ Công Thương khẳng định. Đây là lần đầu tiên có một cuộc tổng hợp toàn bộ, chính thức về vấn đề liên quan đến nhà thầu Trung Quốc tại các dự án năng lượng, công nghiệp.
Số liệu của Vụ trưởng Vụ Năng lượng, Bộ Công thương cho thấy, nhà thầu Trung Quốc đang làm tổng thầu EPC hoặc giữ vai trò chính trong liên doanh trúng thầu lên đến khoảng 80% dự án nhiệt điện than đã ký kết hợp đồng trong Tổng sơ đồ điện 6, bao gồm tổng cộng có gần 40 dự án, kể cả những dự án đang đàm phán.
Luật đấu thầu của Việt Nam không phân biệt nguồn gốc xuất xứ của thiết bị, chỉ chọn giá rẻ, các nhà thầu Trung Quốc đưa ra những mức giá mà người khác không theo nổi, có khi rẻ bằng một nửa các nhà thầu thuộc các nước G7.
Giá rẻ mà làm tốt thì … quá tốt, đằng này, các công trình chậm tiến độ và chất lượng kém. Đơn cử như Tập đoàn điện lực Đông Phương – Trung Quốc làm dự án nhiệt điện Hải Phòng 1, chậm tới hơn 20 tháng, chất lượng thiết bị kém. Công ty CP nhiệt điện Hải Phòng cho biết, Tổ máy 1 phát điện từ tháng 9/2009 nhưng chỉ sau một tháng hoạt động đã gặp sự cố hư hỏng bộ quá nhiệt. Nhà thầu buộc phải thay thế 90 ống quá nhiệt và hệ thống điện, chưa kể các sự cố khác như xì hơi đường ống, trục trặc hệ thống tuần hoàn nước… Nhưng sau đó, Tập đoàn Đông Phương vẫn tiếp tục trúng thầu dự án nhiệt điện Duyên Hải 1 trị giá 1,4 tỷ USD.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế Quản lý hoạt động của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng quy định: tổng thầu nước ngoài chỉ được đưa vào Việt Nam những chuyên gia quản lý kinh tế kỹ thuật và lao động tay nghề cao mà Việt Nam không đáp ứng được. Nhưng nhà thầu Trung Quốc đã mang vào mọi thứ, doanh nghiệp trong nước không tham gia vào được vào chuỗi giá trị đã đành, ngay cả lao động phổ thông nhà thầu Trung Quốc cũng mang theo, nên các công trình lớn này cũng không giải quyết được tình trạng thừa lao động địa phương.
Cần lựa chọn trong thu hút FDI
Gần gũi về địa lý, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc, Trung Quốc là nhà thầu lớn nhất, nhưng lại không phải nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất. FDI của Trung Quốc đứng thứ 15 trong số các nước và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Nhưng quy mô tuyệt đối không nhỏ và tốc độ tăng nhanh trong những năm gần đây.
Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính đến hết tháng 6-2010, đầu tư FDI của Trung Quốc tại Việt Nam theo vốn đăng ký là 2,92 tỉ USD. Dự án lớn nhất là nhà máy sản xuất phôi thép của Công ty TNHH Fuco đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ II (Bà Rịa - Vũng Tàu) với vốn đăng ký 180 triệu USD. Một vài dự án khác có vốn đăng ký trên 100 triệu USD thuộc về các lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM, Hải Phòng và Lào Cai. Nhìn chung nhiều dự án từ Trung Quốc có vốn đầu tư trên 10 triệu USD nhưng vẫn có những dự án có vốn đầu tư dưới 500.000 USD, thậm chí dưới 100.000 USD, theo một báo cáo của Viện Nghiên cứu Trung Quốc công bố. Báo cáo này nhận định: "Quy mô nhỏ đã kéo theo tình trạng hầu hết các dự án đầu tư của Trung Quốc có công nghệ thấp, chỉ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng phổ thông”.
TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phát biểu với báo chí về kinh nghiệm thực tế khi ông sang tỉnh Quảng Đông để tìm hiểu kinh nghiệm phát triển, một số học giả Trung Quốc nói thẳng rằng xét theo chu kỳ công nghệ thì nhiều doanh nghiệp của Quảng Đông, cũng như của những tỉnh khác có tốc độ phát triển kinh tế nhanh... đang có nhu cầu di chuyển công nghệ “quá đát”, có trình độ tương đối thấp và gây nhiều ô nhiễm ra ngoài để tiếp nhận thế hệ công nghệ cao hơn. Đối với các doanh nghiệp ở những đặc khu phát triển cực nhanh như Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn, nhu cầu đó càng bức bách.
Trung Quốc với tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới đang có nhu cầu chuyển dịch cơ cấu, tiếp cận trình độ công nghệ cao. Các nước ASEAN, trong đó đặc biệt là Việt Nam là thị trường đầu tư ưu tiên để làm việc đó. Đó là sự lựa chọn, không nghi ngờ gì, rất hợp lý về mặt kinh tế - ông Thiên đánh giá.
Áp lực tăng giá đối với đồng nhân dân tệ khiến chi phí lương và chi phí sản xuất tăng, doanh nghiệp Trung Quốc có xu hướng tăng cường dịch chuyển dòng vốn ra nước ngoài. Mục tiêu của Trung Quốc là dịch chuyển các cơ sở sản xuất thâm dụng nhiều lao động, mức lương thấp, hàng hóa giá rẻ và công nghệ không cao ra nước ngoài. Theo TS Trần Đình Thiên, nguy cơ tranh chấp nguồn lực, gia tăng tình trạng “tắc nghẽn” tăng trưởng, ô nhiễm môi trường, cạnh tranh sản phẩm và di chuyển lao động - là những nguy cơ đang nổi lên rất trong những năm gần đây. Nếu Việt Nam không có các chính sách và giải pháp ứng phó thích hợp, dựa trên một tầm nhìn chiến lược thì những bất cập, khó khăn trở nên gay gắt hơn.
Minh Châu
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)