10:11:17 | 10/10/2011
Theo đánh giá chung, mô hình phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn qua chủ yếu đi theo chiều rộng, tăng trưởng dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư. Điều này là tất yếu do xuất phát điểm nền kinh tế Việt Nam thấp, phải dựa chủ yếu vào khai thác nguồn nhân lực để thu hút đầu tư. Tuy nhiên với xu thế toàn cầu hóa, thì nhu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia phải liên tục nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu đầu tư để đảm bảo phát triển bền vững. Với Việt Nam yêu cầu này càng trở nên cấp bách và tất yếu.
Bất cập cơ cấu cũ
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2006 - 2010, tổng vốn đầu tư tính theo GDP trong giai đoạn này luôn vượt kế hoạch, bình quân khoảng 42,9% GDP. Cơ cấu đầu tư cũng dần được định hình theo qui luật khách quan trong mỗi thời kỳ.

Theo đó, cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Việt Nam đang ngày càng trở lên đa dạng và theo xu hướng tạo hành lang pháp lý thuận tiện để huy động mọi nguồn lực có thể của xã hội vào các hoạt động đầu tư. Cơ cấu đầu tư theo nguồn chia làm 3 nhóm: Vốn Nhà nước, vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng nguồn vốn nhà nước có xu hướng giảm từ 45,7% năm 2006 còn 38,1% năm 2010. Xu thế chung tỷ trọng nguồn vốn này có giảm nhưng vẫn ở mức cao so với thế giới.
Xét về mức độ biến động thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự biến động mạnh nhất với tỷ trong 16,2% trong năm 2008 tăng lên 30,9% trong năm 2008 và sụt giảm còn khoảng 25,6% trong năm 2009-2010. Điều này phản ánh thực tế ảnh hưởng khá lớn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế nước ta.
Vốn ngoài nhà nước với dòng vốn chủ yếu từ dân cư, doanh nghiệp tư nhân đều tăng về số tuyệt đối từ 240,1 nghìn tỷ đồng (2009) lên 299,5 nghìn tỷ (2010) song tỷ trọng tương đối ổn định: 38,1% (2006); 38,5% (2007), 33,6% (2009) và 36,1% (2010).
Nếu xét theo Cơ cấu đầu tư theo ngành thì ngành công nghiệp, xây dựng vẫn là ngành thu hút lượng đầu tư lớn nhất của toàn xã hội (chiếm hơn 40%). Một điều bất hợp lý là đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản mới chiếm khoảng 6,6% trong khi nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.. Đầu tư cho dịch vụ tài chính, giáo dục đã được đẩy mạnh song thực tế còn rất thấp (khoảng xấp xỉ 6%). Đây là một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam khi mà yêu cầu đầu tư cho con người, cho các dịch vụ xã hội đã được ưu tiên là đầu tư cho sự phát triển ổn định và bền vững của tương lai.
Ngoài ra, cơ cấu đầu tư theo vùng của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất hợp lý như chưa khai thác hết được thế mạnh riêng có, chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ, tạo điều kiện hình thành chuỗi giá trị trong quá trình sản xuất… Một số vùng quá khó khăn về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội khiến chênh lệch phát triển ngày càng nới rộng, không đảm bảo được sự phát triển bền vững chung.
Thách thức và xu hướng điều chỉnh mới
Chính Phủ đã định hướng chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, bền vững, đi liền với sử dụng hiệu quả nguồn lực, tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. Để thực hiện được yêu cầu trên thì vấn đề tái cơ cấu đầu tư là yêu cầu tất yếu.
Theo Tiến sĩ Phạm Đức Hồng, Vụ trưởng Vụ đầu tư, Bộ Tài chính thì với tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội đã đến ngưỡng (trên 40% GDP) Việt Nam không nên tiếp tục xu hướng tăng vốn đầu tư để đạt tăng trưởng mà thay bằng điều chỉnh cơ cấu đầu tư nhằm đảm bảo một cơ cấu hợp lý cho giai đoạn tới. Việc điều chỉnh phải dựa theo một số nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, việc điều chỉnh cơ hay tái cơ cấu đầu tư thực hiện theo nguồn vốn, ngành, lĩnh vực chính là điều chỉnh lại tương quan và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành gồm nguồn vốn, ngành nghề, lĩnh vực và khu vực, vùng. Xu thế chung cần giảm tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ kinh tế nhà nước, đặc biệt nguồn vốn trực tiếp từ NSNN (bao gồm cả nguồn trái phiếu Chính phủ). Tỷ trọng đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước cần tăng lên phù hợp với chính sách khuyến khích xã hội hóa trong các lĩnh vực; các lĩnh vực, dự án, công trình có khả năng tạo nguồn thu hợp lý đều có thể để nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước đảm nhận.
Dòng vốn đầu tư tư nhân (bao gồm cả FDI) vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng song cần chuyển sang bước tinh lọc, hạn chế các dự án khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Định hướng nhiều vào các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến phục phục nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả đầu tư phải là nhân tố quan trọng của tái cơ cấu. Hệ số ICOR phản ánh đầy đủ thực chất hiệu quả đầu tư song với xu hướng tăng và ở mức cao so với các nước khác trong khu vực hoặc trong cùng thời kỳ phát triển cũng đã phần nào phản ánh thực trạng còn yếu kém của đầu tư như tính dàn trải, khối lượng dở dang lớn, chậm tiến độ, nợ đọng trong đầu tư vốn nhà nước hay hàm lượng giá trị gia tăng trong các sản phẩm còn thấp trong đầu tư của khối tư nhân, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý, chất lượng cán bộ là biện pháp đồng bộ không thể thiếu. Đây vừa là yêu cầu vừa là biện pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung. Đặc biệt việc thực hiện cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền trong quản lý đầu tư phải trên quan điểm rõ ràng về trách nhiệm, quyền lợi đồng thời cũng rõ ràng về nghĩa vụ và các chế tài xử lý khi vi phạm.
Như vậy việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và mô hình phát triển kinh tế trong mỗi thời kỳ là một yêu cầu khách quan. Việt Nam cần nghiên cứu và điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho hợp lý nhằm đảm bảo sự phát triển và tính bền vững trong tương lai.
Thu Hà
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)