10:04:30 | 4/11/2011
Lĩnh vực hợp tác đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời gian gần đây đã có một số tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, quy mô và tốc độ phát triển chưa được như kỳ vọng, chưa tương xứng với tiềm năng.
Nhiều tiềm năng
Ông Hirokazu Yamaoka, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) cho rằng Việt Nam là đối tác rất quan trọng của Nhật Bản trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ. Thời gian tới, sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam cũng như chuyển các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Phát triển công nghiệp phụ trợ là một nội dung quan trọng được tiếp nối thực hiện từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3 và tiếp tục sang giai đoạn 4 của Sáng kiến chung Nhật Bản và Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ thông qua Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN ngày 31/7/2011 về phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và Quyết định số 12/2011/QĐ-TTCP ngày 24/2/2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ theo đó Bộ Công Thương đóng vai trò chủ đạo. Đề phát triển công nghiệp hỗ trợ tốt hơn nữa, Chính phủ tạo điều kiện trợ giúp doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh hơn, giai đoạn đầu định hướng các doanh nghiệp SME tập trung vào công nghiệp phụ trợ sản xuất linh kiện, phụ kiện để tiếp thu công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, dần dần mạnh lên thì có thể tham gia vào công nghiệp nặng.

Ông Trần Tuấn Anh – Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết: Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam gần 1.500 dự án FDI, tổng vốn đầu tư trên 21 tỷ USD, vốn thực hiện được gần 12 tỷ. Đây là con số đáng trân trọng, nhưng thực ra mức đầu tư này còn nhỏ, chỉ tương đương với đầu tư của các nền kinh tế có quy mô nhỏ bé hơn nhiều so với kinh tế Nhật như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc… và chủ yếu là các dự án quy mô nhỏ (bình quân khoảng 7 triệu USD/dự án).
Thời gian qua, nhiều tập đoàn của Nhật Bản đã vào và tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở lắp ráp tại Việt Nam, từ đây cung cấp ra thị trường khu vực và thế giới. Tới nay ở Việt Nam cũng đã hình thành được một số khu Công nghiệp chuyên sâu như Thăng Long 1 và 2 ở Hà Nội, Nomura Hải Phòng và ở TP. Hồ Chí Minh, hoạt động có hiệu quả, nhưng cũng chủ yếu thu hút cà nhà đầu tư Nhật trong lĩnh vực gia công lắp ráp.
Đối với dự hỗ trợ của Nhật Bản cho phát triển công nghiệp hỗ trợ, phía Nhật Bản cứ cố vấn chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức các khóa học thương mại tại Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam- Nhật Bản, cử tình nguyện viên cao cấp làm việc tại nước ngoài đến các doanh nghiệp Việt Nam, cung cấp tín dụng cho các DNVN, tổ chức các hội chợ, hội đàm thương mại liên quan đến cung ứng linh kiện điện tử.
Đẩy mạnh hợp tác
Tiến sĩ Phạm Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, Chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) cho biết: Hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với những điểm yếu trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực gia công lắp ráp, đó là công nghệ gia công lắp ráp đã làm cho nhập siêu tăng nhanh, giá trị gia tăng sản xuất trong nước còn thấp, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ rất hạn chế. Các nhà máy gia công lắp ráp quy mô lớn sử dụng nhiều lao động giản đơn dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động bắt đầu xuất hiện tại nhiều khu công nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chưa có những chính sách thỏa đáng nhằm phát triển mạnh khối doanh nghiệp SME trong nước, vì vậy dẫn đến tình trạng mạng lưới lắp ráp trong nước đã hình thành mà không có doanh nghiệp phụ trợ bản địa cung ứng thiết bị phụ kiện đầy đủ chất lượng, nên hộ vẫn phải nhập khẩu.
Theo ước tính của Bộ Công thương, nhiều ngành công nghiệp hiện nay đã lệ thuộc gần 80% nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu. Chẳng hạn, ngành ô tô mới nội địa hóa khoảng 5-10%, một số ngành cơ khí khác như lắp ráp xe máy cũng chỉ đạt mức 30%. Mấu chốt của vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam chưa tạo ra được chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng những dịch vụ tài chính, phi tài chính để có thể khai thác các lợi thế cạnh tranh phục vụ cho phát triển những ngành công nghiệp này.
Các khó khăn cũng được Thứ trưởng Trần Tuấn Anh lưu ý: “Tại Việt Nam đã có một số điều kiện ban đầu đáp ứng ở quy mô phù hợp; trong nước Nhật hiện nay thị trường bị thu hẹp, giá đồng Yên cao làm giảm sức cạnh tranh sản xuất, đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp Nhật buộc phải chuyển mạnh hơn sản xuất ra ngoài. Đặc biệt, thảm họa động đất sóng thần vừa qua tại Nhật Bản đang đẩy các tập đoàn Nhật phải tập trung tái cơ cấu hệ thống sản xuất, cung cấp thiết bị, nguyên liệu, nhân lực. Nếu Việt Nam chuẩn bị tốt điều hiện trong nước thì có thể sớm đón làn sóng đầu tư thứ 3 từ Nhật”.
Để thành công trong thu hút các công ty của Nhập Bản phát triển công nghiệp phụ trợ và công nghiệp chế tạo, điều kiện cần có là nguồn nhân lực chất lượng cao, điều kiện hạ tầng phù hợp và phải chú ý phát triển các trường dạy nghề có chất lượng, đặc biệt cần phải đào tạo mạnh tiếng Nhật. Và để phát triển các khu công nghiệp chế tạo chuyên sâu đòi hỏi sự hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân của Nhật Bản và Việt Nam, đảm bảo cung cấp mặt bằng và hạ tầng khu công nghiệp đạt tiêu chuẩn và với giá thấp nhất để khuyến khích các doanh nghiệp của Nhật bản vào Việt Nam đầu tư kinh doanh lâu dài, ông Trần Tuấn Anh cho biết.
Hương Ly
Thứ Sáu, ngày 10/04/2026
Online qua Zoom
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)