Đối mặt nguy cơ suy thoái

07:06:56 | 12/4/2012

Sản xuất đình đốn thể hiện ở khu vực doanh nghiệp đang làm dấy lên lo ngại nền kinh tế rơi vào suy thoái sau thời gian dài đối phó với lạm phát.

Trong Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2011 do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 14/3, có những nghiên cứu sâu về thực trạng sản xuất kinh doanh của khu vực DN, bộc lộ những vấn đề rất lớn không chỉ của khu vực DN mà cả nền kinh tế. Trong sớ 622.977 DN đã đăng ký thành lập và còn tồn tại trên danh nghĩa, thực chất chỉ còn khoảng 290 DN đang hoạt động.

Tồn kho và đình đốn

Năm 2011 là một năm khó khăn đối với nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đã chậm lại so với năm 2010, GDP đạt 5,89%. số lượng DN buộc phải giải thể và ngừng hoạt động tăng cao. tính hết năm 2011, tổng DN đã giải thể là 79.014 DN, trong đó DN tư nhân đã giải thể 2.082 DN, công ty TNHH một thành viên là 16.748 DN, công ty TNHH 2 thành viên trở lên là 18.826 DN. Nhiều nhất là số công ty cổ phần với 41.357 DN, ít nhất là công ty hợp danh với chỉ một DN.

Trong điều kiện sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện nguồn vốn tín dụng hạn hẹp, lãi suất đã bắt đầu giảm xuống nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khả năng chịu đựng của DN. Một số DN phải thu hẹp sản xuất, giảm hiệu quả, thậm chí bị thua lỗ.

Trong những tháng đầu năm 2012, tình hình còn trở nên khó khăn hơn, khi nhiều ngành sản xuất lộ diện sự trì trệ trong tiêu thụ sản phẩm, nợ nần chồng chất và thiếu phương hướng tồn tại và phát triển. Thị trường bất động sản giảm sâu chưa thấy dấu hiệu hồi phục kéo theo sự đi xuống của thị trường thép, vật liệu xây dựng. Hiện nhiều DN thép chỉ chạy 50-60% công suất thiết kế, thậm chí có ít nhất 6 DN đã ngừng sản xuất do hàng bán không được. Lượng hàng tồn kho của ngành thép hiện đang ở mức rất lớn…

Ximăng cũng cùng chung “số phận” với sắt thép. Mức tiêu thụ năm nay được dự báo có thể chỉ bằng năm 2011thậm chí thấp hơn. Lượng xi măng dư thừa trong năm 2012 khoảng 8 - 10 triệu tấn khiến thị trường này ngày càng khốc liệt. Do đầu tư dây chuyền thiếu đồng bộ, thiết bị kém chất lượng… nên hầu hết các nhà máy mới đi vào sản xuất đều gặp trục trặc trong quá trình sản xuất, tiêu hao nhiên liệu lớn làm tăng chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất tăng, thị trường chậm tiêu thụ là nguyên nhân khiến nhiều dự án xi măng lâm vào tình trạng lỗ như nhà máy xi măng Hoàng Mai, Tam Điệp, Thái Nguyên và Đồng Bành…

Trong khi năm nay được đánh giá là những khó khăn mới chỉ bắt đầu, các dự án xi măng vay vốn nước ngoài để đầu tư trong giai đoạn 1998 – 2007 đến hạn trả nợ. Trong một báo cáo của Bộ Tài chính trình Chính phủ, trong vòng 3 – 5 năm tới, sẽ có thêm nhiều dự án xi măng khó khăn trong việc trả nợ do kết quả kinh doanh không khả quan dẫn đến mất cân đối về nguồn để trả nợ vốn vay.

Thị trường bất động sản đóng băng với hàng loạt DN đôn đáo tìm đối tác liên kết đầu tư hoặc bán lại dự án để cơ cấu nợ NH, kéo theo là sự sụt giảm sâu của ngành xây dựng. Một báo cáo của Bộ Công thương cho thấy, điểm đáng lo nhất là nhiều có chỉ số tồn kho rất cao, chỉ tiêu thụ, bán được chưa đến một nửa tổng lượng hàng đã sản xuất. Điều này sẽ gây khó trong thu hồi vốn, tiếp tục sản xuất của DN. Nhiều nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh, tính đến 1-3, lượng tồn kho của phân bón và hợp chất nitơ tăng tới 62,7%; sắt, thép tăng 59,1%; bia và mạch nha tăng 48%; cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 29%; sợi và dệt vải tăng 6,6%.

Ngành công nghiệp chế biến vẫn là ngành gặp nhiều khó khăn nhất, chỉ số sản xuất ba tháng đầu năm của ngành này thấp hơn nhiều so với mức tăng 13,4% của cùng kỳ năm trước, theo đánh giá của Bộ Công thương.

Những mảng màu tối của nền kinh tế cho thấy một thực trạng sản xuất đình đốn và DN khó khăn hơn bao giờ hết. Không thể hết lỗi do chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng thực tế phải nhìn nhận rằng chi phí vốn vay quá cao đã dồn gánh nặng quá lớn lên vai DN. Mức lãi suất cho vay bình quân của Việt Nam đang cao hơn các đối thủ cạnh tranh - một số nước trong khu vực - từ 2 đến 4 lần, trong khi đó đại đa số DN VN có quy mô nhỏ và vừa, vốn mỏng và sức cạnh tranh kém.

Lựa chọn chính sách

Trong một tham luận, Tiến sĩ Trần Đình Thiên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, khu vực DN đang phải chịu gánh nặng chi phí lãi vay và chi phí tài chính ngày một lớn do lãi suất cho vay quá cao. Chi phí tài chính cao không những làm suy giảm lợi nhuận mà còn làm giảm khả năng hồi phục của khu vực DN.

Ở phía NH đã phát đi thông điệp cắt giảm lãi suất để hỗ trợ sản xuất. Tuy nhiên, tiến trình cắt giảm lại không rõ nét do khu vực NH đang trong giai đoạn khó khăn và tái cơ cấu, hơn thế các bước đi cần cần nhắc đến nguy cơ lạm phát quay trở lại. Lãi suất vẫn rất cao trong khi tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay luôn trong tình trạng âm, cho thấy khó khăn của DN và nền kinh tế. Theo TS Thiên, tình trạng đình đốn sản xuất đã khiến khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, của nhiều DN suy giảm mạnh. Tình hình tài chính của nhiều DN xấu đi nghiêm trọng, khiến họ không đáp ứng đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng.TS. Trần Đình Thiên cho rằng tình trạng này chứa đựng xu hướng mang tính nguy cơ cao là số lượng doanh nghiệp bị phá sản và đóng cửa đang tăng lên.

Tuy nhiên, những DN phá sản lại mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm đình đốn sản suất. Để sống sót đại đa số DN phải cắt giảm sản xuất, thu hẹp hoạt động, hạn chế các khoản đầu tư mới. Không có số liệu cụ thể về tình trạng này trên bình diện rộng lớn, nhưng khó khăn đang hiện hữu ở nhiều ngành và trên nhiều diễn đàn, DN thực sự đang phải đối mặt với nguy cơ tồn vong.

Điều các chuyên gia kinh tế lo ngại là với thực trạng này, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2012 vừa được Quốc hội thông qua từ 6-6,5% trở nên rất khó đạt. Các hệ luỵ đến đời sống kinh tế không nhỏ khi lao động thất nghiệp tăng, làm giảm sút lòng tin xã hội vào triển vọng của nền kinh tế và gây bất ổn kinh tế - xã hội.

Vấn đề được giới nghiên cứu đặt ra là Việt Nam sẽ lựa chọn chính sách như thế nào để nền kinh tế thoát khỏi nguy cơ đình đốn, phục hồi tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô. Lời giải ở đây là hỗ trợ khu vực DN. Tín hiệu từ NHNN cho thấy dấu hiệu nới lỏng tiền tệ, bằng định hướng cắt giảm lãi suất; đồng thời cơ quan này đang nghiên cứu sửa đổi thông tư 13, một hướng sửa đổi được đặt ra ở khả năng hạ hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay bất động sản, chứng khoán từ 250% xuống còn 150%; áp tỷ lệ cho vay so với vốn huy động 95% và 100% đối với các NHTM và công ty tài chính. Điều này nếu được thông qua sẽ NH, theo hướng kích thích tín dụng .

Ngoài định hướng hạ mặt bằng lãi suất, các chính sách hỗ trợ cộng đồng DN khác đến nay chưa rõ nét. Để “giải cứu” DN, TS Trần Đình Thiên kiến nghị, giảm thuế DN từ mức 25% xuống 20%, miễn hoặc giảm đáng kể các loại thuế khác; tránh không áp dụng tùy tiện các loại phí, ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin xã hội, tạo thêm gánh nặng cho DN. Đồng thời, phải có phương thức và lộ trình tích cực để hạ nhanh lãi suất chứ không thể theo lộ trình tuần tự chậm chạp mỗi quý giảm 1% lãi suất như dự kiến.

Lê Minh