12:37:49 | 25/7/2011
Với tốc độ tăng trưởng bình quân 25%/năm và đóng góp quan trọng vào GDP của cả nước, có thể thấy kinh tế biển nói chung và cảng biển nói riêng đang đóng vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế Việt Nam.

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi với vùng biển rộng trên 1 triệu km², hơn 3.200 km chiều dài bờ biển ở một vị trí chiến lược trong khu vực, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm trải dọc theo chiều dài đất nước và là cửa ngõ thông ra biển của các nước lân cận. Nhờ lợi thế là quốc gia nằm sát đường hàng hải quốc tế, nơi có mật độ tàu biển qua lại vào loại đông nhất nhì thế giới và thuận lợi về địa lý, Việt Nam có nhiều điều kiện để xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển, kể cả các cảng biển nước sâu trên khắp các vùng biển của cả nước. Hiện nay, hệ thống cảng biển của Việt Nam bao gồm 98 cảng với gần 350 cầu, bến; lượng hàng hóa thông qua các cảng Việt Nam luôn có mức tăng trưởng cao, trung bình khoảng 15,5%/năm.
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển cảng biển, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 nhằm phát triển toàn diện hệ thống cảng biển, nhanh chóng hội nhập với các nước tiên tiến về lĩnh vực cảng biển, góp phần thực hiện mục tiêu Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, từng bước đưa kinh tế hàng hải trở thành mũi nhọn hàng đầu trong các lĩnh vực biển. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam rất cần sự trao đổi kiến thức, sẻ chia kinh nghiệm cũng như hợp tác sâu rộng của các cường quốc hàng hải trên thế giới, đặc biệt là Vương quốc Anh.
Đại sứ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, ông Antony Stokes cho rằng để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và xuất nhập khẩu, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển cảng biển. Trong hầu hết các lĩnh vực liên quan đến ngành cảng như thiết kế, xây dựng, dịch vụ tư vấn, quản lý dự án, đào tạo, cung cấp thiết bị, các dịch vụ tài chính - pháp lý, hậu cần, an toàn hàng hải và trạm khí hóa lỏng ..., Anh hiện là quốc gia tích lũy được nhiều kinh nghiệm và giải pháp khả thi phù hợp với hệ thống cảng biển Việt Nam. Những kinh nghiệm về cảng biển của Anh có thể giúp Việt Nam tìm ra các giải pháp thích hợp cho nhu cầu hiện đại hoá ngành cảng theo những đặc thù riêng của đất nước. Ông Antony Stokes khẳng định Chính phủ Anh quốc nói chung cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cảng biển nói riêng sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam nâng cao năng lực quản lý; nâng cao năng lực vận hành các cảng biển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như đạt được các tiến bộ đột phá trong ngành cảng biển nói chung để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về quản lý và vận tải biển.
Theo ông Vương Đình Lam - Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, hiện 90% hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được chuyên chở bằng đường biển. Do đó, để đạt sản lượng hàng qua cảng 400 triệu tấn vào năm 2020, hệ thống cảng biển Việt Nam cần được nâng cấp và phát triển đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng, quy mô và năng lực quản lý. Tuy nhiên, để phát triển hệ thống cảng biển không thể chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước mà cần phải vận dụng linh hoạt các cơ chế để huy động vốn từ các nguồn như ODA, vốn vay ưu đãi của Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư khai thác cảng biển.
Hiện nay, Việt Nam đang tìm mọi cách để phát huy lợi thế, khai thác tối đa tiềm năng vùng biển, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển, tạo cơ chế thuận lợi trong khai thác cảng để phát huy hiệu quả đầu tư. Hệ thống cảng biển phát triển nhanh đồng bộ và hội tụ đủ điều kiện, tiêu chuẩn quốc tế sẽ làm thay đổi đáng kể tình hình vận tải container trong khu vực trong thập niên tới.
Ông Tim Brownbill, Tổng lãnh sự Anh tại Tp.Hồ Chí Minh cho rằng để đạt được mục tiêu đó, các cảng biển của Việt Nam trong thời gian tới cần nâng cao chất lượng và phát triển rộng các loại dịch vụ, hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh. Các cảng biển và các ngành liên quan tại cảng cần có sự quan tâm tới việc quy hoạch cảng biển, cần có những khu dịch vụ hậu cần sau cảng và phải được kết nối với cảng tạo thành chuỗi dịch vụ liên hoàn, có thể đáp ứng được các yêu cầu của đối tác nước ngoài một cách thuận lợi. Ngoài ra Việt Nam cũng cần tích cực duy trì, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, tham gia tích cực vào các hoạt động của Hiệp hội Cảng biển ASEAN, Hiệp hội Cảng biển quốc tế; tăng cường tiếp thị, tìm kiếm, xúc tiến thông tin thị trường cho khối cảng...
Hồng Hạnh
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)