Ngành ngân hàng: Chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, giữ ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng

00:03:05 | 17/2/2026

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng chuyển giao bắt buộc, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đây là những mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ tiếp tục bám sát thực hiện trong năm 2026. Cùng với đó, NHNN cũng dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Tín dụng bứt phá, lợi nhuận nhiều ngân hàng lập kỷ lục trong năm 2025

Trong năm qua, tín dụng có lẽ là điểm sáng lớn nhất của ngành ngân hàng. Ngay từ đầu năm 2025, ngành đã đặt mục tiêu tăng tín dụng sớm khi room tín dụng được giao toàn bộ cho các ngân hàng một cách công khai và nhiều biện pháp thúc đẩy tín dụng liên tục được đưa ra. Nhờ đó, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ và thiết lập mức cao mới, đạt 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm 2025 và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước (tính đến ngày 24/12/2025). Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Nhiều ngân hàng thương mại đã đạt kết quả kinh doanh khởi sắc. Trong nhóm Big 4, hết năm 2025, BIDV có  tổng tài sản đạt trên 3,25 triệu tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2024, tiếp tục khẳng định vị thế ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam; dư nợ tín dụng đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 15,2%; huy động vốn đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng, tăng 13,7%; chất lượng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ với tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,2%; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt trên 36.000 tỷ đồng, tăng trên 12%.

VietinBank, đến hết năm 2025, tổng tài sản ngân hàng này ước đạt 2,8 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 18% so với năm 2024; dư nợ tín dụng ước đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ tín dụng ở mức dưới 1,5%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục được duy trì ở mức cao. Nguồn vốn huy động ước đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 13% so với cuối năm 2024.

Đối với Agribank, tổng tài sản đạt trên 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 12,1% so với đầu năm; dư nợ tín dụng đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 16%; huy động vốn đạt 2,35 triệu tỷ đồng và tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1,5%. Vietcombank có tổng tài sản đạt 2,48 triệu tỷ đồng, tăng gần 20% so với cuối năm 2024. Dư nợ cấp tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 1,66 triệu tỷ đồng, tăng hơn 15%; huy động vốn tăng 10%, tỷ lệ nợ xấu dưới 1%,...

Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần lớn, nhiều ngân hàng cũng công bố kết quả kinh doanh khả quan. Tại Ngân hàng Quân đội (MB), lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 33.700 tỷ đồng, tăng khoảng 17% so với lợi nhuận hợp nhất năm 2024; tổng tài sản đạt gần 1,5 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 33% so với đầu năm và vượt xa mức mục tiêu đề ra; huy động vốn đạt khoảng 1,05 triệu tỷ đồng. Ngân hàng TMCP Nam Á có lợi nhuận trước thuế đạt 5.254 tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 15,6% so với năm 2024; tổng tài sản đạt 418.335 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với đầu năm, chính thức lọt vào Top 15 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống.

Ngân hàng TMCP An Bình đạt lợi nhuận trước thuế 3.522 tỷ đồng, gấp 4,7 lần so với kết quả hợp nhất năm 2024 và hoàn thành gần 200% kế hoạch năm; dư nợ tín dụng đạt hơn 127.000 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024. CIR (chi phí chia cho thu nhập hoạt động) giảm về mức 35,09%; ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) đạt 18% - tiệm cận nhóm ngân hàng thương mại cổ phần dẫn đầu. Tỷ lệ nợ xấu giảm xuống dưới mức 1%.

Triển vọng 2026: phân hóa mạnh, ưu thế nghiêng về nhóm có nền tảng vững

Bước sang năm 2026, một số ngân hàng đã tiết lộ kế hoạch kinh doanh với những mục tiêu tăng trưởng cao.

Trong đó, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15 - 16% theo hạn mức NHNN giao, kiểm soát nợ xấu không quá 1,5%; lợi nhuận trước thuế tăng khoảng 10% và tiếp tục tuân thủ đầy đủ các tỷ lệ an toàn hoạt động.

VietinBank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng trưởng 5 - 10%; tín dụng theo hạn mức tăng trưởng được phê duyệt; nguồn vốn huy động tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các chỉ số an toàn thanh khoản; tỷ lệ nợ xấu dưới 1,8%.

Còn Vietcombank đặt mục tiêu có tổng tài sản tăng tối thiểu 11%; huy động vốn trên thị trường 1 tăng tối thiểu 14%; tín dụng tăng trưởng an toàn hiệu quả khoảng 13% tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1,5%; lợi nhuận trước thuế tăng tối thiểu 7%.

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, tăng hơn 9,4%; tăng trưởng tín dụng khoảng 17%, đảm bảo phù hợp với hạn mức dư nợ tín dụng tối đa theo quy định, huy động vốn dự kiến tăng trưởng 23%. Tổng tài sản của SeABank được kỳ vọng sẽ tăng trưởng 10%.

Kết quả tại Cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD) quý I/2026 của NHNN cho thấy, các TCTD đánh giá triển vọng kinh doanh trong năm 2026 vẫn tích cực nhưng thể hiện sự thận trọng hơn khi dự báo tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế thấp hơn năm 2025, mặc dù tăng trưởng tín dụng được các TCTD dự báo tiếp tục duy trì mức khả quan, nợ xấu kỳ vọng tiếp tục được kiểm soát tốt.

Theo giới phân tích, năm 2026, ngành ngân hàng sẽ phân hóa rõ nét, khi lợi nhuận không còn tăng đồng loạt như các năm trước. Những ngân hàng có nền tảng vốn mạnh, kiểm soát tốt nợ xấu và có dư địa tín dụng lớn sẽ bứt phá, còn nhóm yếu về chất lượng tài sản sẽ tiếp tục chịu áp lực cải thiện hiệu quả hoạt động.

Trong báo cáo triển vọng ngành ngân hàng mới công bố, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 2026 của toàn ngành ngân hàng là 20%. Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh có lợi nhuận tăng trưởng khả quan hơn nhờ triển vọng mở rộng biên lãi thuần từ nửa sau năm 2026 và nâng cao chất lượng tài sản, giảm tỷ trọng trích lập dự phòng. Nhóm ngân hàng tư nhân năng động được hưởng lợi từ chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân, nhờ đó tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận vượt trội, cùng với đó là các hoạt động tái cơ cấu, tăng vốn chiến lược nước ngoài, thu hồi nợ,…

Theo phân tích của Công ty Chứng khoán Rồng Việt, trong giai đoạn trước, tăng trưởng tín dụng cùng mặt bằng lãi suất thuận lợi có thể tạo ra đà tăng tương đối đồng đều giữa các ngân hàng thì bước sang năm 2026, động lực tăng trưởng trở nên chọn lọc hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào nội lực của từng tổ chức.

Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) dự báo, biên lãi ròng năm 2026 sẽ đi ngang hoặc giảm nhẹ so với năm 2025, song mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ ngày càng rõ rệt. Những ngân hàng sở hữu cơ cấu nguồn vốn bền vững, tỷ lệ CASA cao, chi phí vốn thấp và năng lực quản trị rủi ro tốt sẽ có lợi thế duy trì biên lợi nhuận ổn định hơn mặt bằng chung. Ngược lại, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào huy động kỳ hạn dài hoặc cạnh tranh mạnh về lãi suất cho vay có thể tiếp tục đối mặt với áp lực lên biên lãi ròng.

Quỳnh Chi (Vietnam Business Forum)