Vừa qua, tại Hà Nội, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) đã tổ chức hội thảo "Thị trường Nhật Bản - Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam". Sự kiện nhằm cung cấp những thông tin cập nhật về thị trường Nhật Bản, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp thúc đẩy và mở rộng hoạt động kinh doanh đồng thời chỉ ra những thách thức cho các doanh nghiệp Việt tại thị trường xuất khẩu lớn thứ hai này.
Nhiều cơ hội
Tại hội thảo, đa số các chuyên gia đều cho rằng với tiềm năng thị trường lớn và môi trường pháp lý, kinh tế ngày càng thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm thấy nhiều cơ hội xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Bà Lê Hoàng Oanh, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, cho biết “Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế, thương mại và đầu tư quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản đã phát triển tốt đẹp và bền vững với lịch sử quan hệ gần 40 năm kể từ khi hai nước thiếp lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973. Cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản – ASEAN, hai bên đã ký kết Hiệp định đối tác song phương Việt – Nhật năm 2008, tạo ra khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước”.
Trong những năm qua, nhiều mặt hàng Việt Nam đã thâm nhập và có chỗ đứng tại thị trường Nhật Bản như: thủy sản, may mặc, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa, đồ da, giày dép, dây và cáp điện, sản phẩm điện tử và linh kiện…
Sau hai năm Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) có hiệu lực, nhiều hàng hoá của Việt Nam do tận dụng được các ưu đãi thuế quan đã tăng sự có mặt ở thị trường Nhật. Nhiều mặt hàng có lợi thế của Việt Nam như hàng nông nghiệp, lâm sản, thuỷ sản giá trị xuất khẩu cao đang có nhiều lợi thế ở Nhật do được hưởng thuế suất bằng 0% ngay khi VJEPA có hiệu lực. Các mặt hàng công nghiệp xuất sang Nhật cũng có mức thuế suất rất thấp từ 0% đến 5%.
Năm 2011, mặc dù Nhật Bản phải chịu đại thảm họa động đất, sóng thần và khủng hoảng trầm trọng, nhưng quan hệ hợp tác, kinh tế, thương mại, công nghiệp và đầu tư giữa hai nước vẫn phát triển mạnh mẽ. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Nhật Bản đạt 21,1 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2010; trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 10,7 tỷ USD, tăng 39% so với năm 2010. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2012, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đã đạt 3,1 tỷ USD, nhập khẩu đạt 2,5 tỷ USD.

Thống kê của Tổ chức Xúc tiến và Hỗ trợ quan hệ mậu dịch của Nhật Bản (JETRO) cũng cho thấy, hàng năm, Nhật Bản nhập khoảng 70% hàng nông sản, trong đó có bắp, đậu nành, những nông sản đã chế biến và trái cây; tiếp đến là thủy sản chiếm 20%, trong đó tôm là mặt hàng chủ lực. Đây chính là những cơ hội cho các doanh nghiệp chế biến và sản xuất nông sản của Việt Nam. Hiện nay, các nhà sản xuất Việt Nam đã tạo ra được nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng là tôm lăn bột chiên, tôm chẻ đôi được chế biến với món shusi.
Về đầu tư, trong ba tháng đầu năm 2012, Nhật Bản là nhà đầu tư dẫn đầu trong số 26 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,3 tỷ USD, chiếm 88,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Và không ít thách thức
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ ra những khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Nhật Bản. Đó là những tiêu chuẩn đặc thù kỹ thuật về công nghiệp và nông nghiệp rất khắt khe. Ngoài ra, hệ thống phân phối ở Nhật Bản khá phức tạp, hàng hoá qua nhiều khâu trung gian nên đến tay người tiêu dùng giá rất cao so với giá nhập khẩu, vì thế doanh nghiệp phải chịu sức ép về giá để đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu, trong khi hầu hết các chi phí đầu vào đều tăng.
Theo ông Võ Thanh Hà, Trưởng phòng Đông Bắc Á, Vụ Thị trường châu Á-Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), đó chính là những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khi thâm nhập thị trường Nhật Bản. Hàng hóa của Việt Nam phải đạt được các tiêu chuẩn này mới được phép lưu thông. Ông cũng khuyến cáo để thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt thông tin và hiểu biết về tập quán kinh doanh của người Nhật. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị các thông tin về khách hàng trước khi dự hội chợ ngành hàng tại Nhật Bản sẽ giúp đạt hiệu quả đàm phán và tiết kiệm được nhiều chi phí.
Không chỉ vậy, sản xuất sang Nhật cũng mất nhiều chi phí hơn bởi phải tăng các khâu thiết kế, kỹ thuật, bảo quản, vận chuyển… do người tiêu dùng Nhật rất chú ý và khắt khe về chất lượng, độ bền, sự tiện dụng, các dịch vụ hậu mãi…
Việc hiểu biết thấu đáo về văn hóa, tập quán kinh doanh của người Nhật cũng vô cùng quan trọng. Cách sử dụng danh thiếp, catalogue công ty và luôn đúng hẹn cũng là những yếu tố không thể thiếu để tạo niềm tin từ lần đầu gặp gỡ với các doanh nghiệp Nhật Bản.
Một điểm khác nữa là các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải tính toán kỹ, tiết giảm chi phí thì mới có thể cạnh tranh được với các nguồn cung cấp giá rẻ khác ( từ Ấn độ, Pakistan, Bangladesh..). Mục tiêu ngắn hạn là cố gắng giành thị phần và xây dựng quan hệ và mục tiêu lâu dài hướng tới sau khủng hoảng là hiệu quả.
Ông Hà cũng nhấn mạnh, để tận dụng hết các cơ hội thị trường này mang lại, thì cùng với việc tận dụng các kênh hỗ trợ của Việt Nam và Nhật Bản như: Thương vụ Việt Nam, JETRO, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp cũng nên khai thác triệt để những ưu đãi do các Hiệp định song phương và đa phương mang lại đồng thời, việc hiểu biết các quy định tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và thực tế kiểm dịch tại Nhật Bản cũng sẽ giúp các doanh nghiệp cung cấp được sản phẩm ổn định chất lượng, hạn chế bị trả lại hàng và rút ngắn được thời gian kiểm dịch.
Thu Hà