Lực cản từ công tác bảo quản sau thu hoạch thủy sản

10:16:24 | 11/7/2012

Là một quốc gia có thế mạnh về phát triển thủy sản, trong những năm qua ngành nuôi trồng thủy sản đã tăng mạnh cả về sản lượng và giá trị, thế nhưng hiện nay ngành đang phải đối diện với một thách thức lớn về công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Điều này ít nhiều đã tạo ra lực cản cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành.

Theo mục tiêu phát triển ngành thủy sản đến năm 2020, sản lượng khai thác thủy sản của cả nước sẽ đạt 2,4 triệu tấn với mức tăng trưởng giá trị sản xuất khai thác hàng năm đạt 16-17%. Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 4,5 triệu tấn với mức tăng trưởng bình quân 5,2%; kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỉ USD.

Lạc hậu

Ông Nguyễn Duy An- Giám đốc Nhà máy thực phẩm đóng hộp KTC cho biết, hiện cả nước có gần 130.000 tàu cá các loại, trong đó tàu có công suất máy dưới 20 CV là 65.000 chiếc (chiếm 50%), từ 20-50 CV có 3.000 chiếc (23,8%), từ 50 đến dưới 90 CV là 9.500 chiếc (7,3%), tàu từ 90 CV trở lên có 4.517 chiếc (18,8%). Nhìn chung phương pháp bảo quản thủy sản trên các tàu hiện còn quá lạc hậu, phần lớn số tàu đều không bố trí hầm chứa hải sản riêng mà sử dụng các thùng chứa rời, bảo quản bằng cách ướp nước đá xay đựng trong các khay nhựa hoặc túi nilon, thậm chí có những tàu vẫn bảo quản theo phương pháp thuyền thống là ướp muối. Trong khoảng 10 năm trở lại đây số lượng tàu cá tăng lên rất nhanh, nhưng chủ yếu là tàu nhỏ, không có hoặc có nhưng rất hạn chế về điều kiện bảo quản, trên tàu cũng không có mặt bằng để lựa chọn, phân loại hải sản. Nhiều tàu không thiết kế hầm bảo quản sản phẩm hoặc có nhưng làm bằng các vật liệu không đảm bảo cách nhiệt tốt, thậm chí ở một số tỉnh miền Trung ngư dân còn dùng bạt nhựa để làm hầm chứa. Với tập quán tiêu thụ thủy sản dễ dãi, cá ươn cũng bán được đã làm cho ngư dân ít quan tâm đầu tư cho khâu bảo quản trên tàu - ông An phân tích.

Theo ông Nguyễn Hữu Dũng- Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản VN (VASEP): công nghệ bảo quản sau thu hoạch của ngành thủy sản hiện còn rất lạc hậu vì thực tế cho thấy, mặc dù nằm trong top 5 các nhà cung cấp thủy sản lớn nhất thế giới, nhưng đến nay VN còn thiếu chiến lược tiếp thị đồng bộ và lâu dài cho cả ngành thủy sản; thiếu hệ thống cung cấp thông tin đầy đủ, chính thức trước các thông tin sai lệch về chất lượng nên luôn gặp phải rào cản thương mại của các nước EU, Mỹ… Đó là chưa kể tới, tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh trong DN thường xảy ra, dẫn tới phá giá thị trường. Nhà máy chế biến thủy sản phát triển không theo quy hoạch vùng. Từ năm 2007-2010, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có 190 nhà máy chế biến thủy sản, với công suất thiết kế trên 1,2 triệu tấn/năm. So với năm 2003, số nhà máy tăng gấp 2,3 lần, công suất thiết kế tăng gấp 2,7 lần. Hậu quả là thiếu nguồn nguyên liệu cho sản xuất, các nhà máy hoạt động cầm chừng chỉ đạt 30-50% công suất; thậm chí hiện nay nhiều nhà máy chế biến chỉ chạy 10-30% công suất, có nhà máy đã ngừng hoạt động.

DN và ngư dân cần gì ?

Vấn đề lớn nhất đối với sự phát triển của ngành thủy sản VN hiện nay là sự mất cân đối về nhận thức cũng như hành động của các thành phần khác nhau trong chuỗi giá trị. Nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản về cơ bản vẫn được đặt trong chế độ “tiếp cận tự do”, việc quản lý chỉ là hành vi mang tính đối phó từng vụ việc. Nuôi trồng tự phát đã đe dọa đến môi trường và sự phát triển bền vững, thông tin thị trường không thông suốt, thiếu mối liên kết giữa các thành phần trong chuỗi hệ thống, gây nên nhiều trở ngại trong xuất khẩu như: nhiễm bẩn sản phẩm, dư lượng kháng sinh.. Vì vậy, hơn lúc nào hết ngành thủy sản nói chung đặc biệt là công tác bảo quản sau thu hoạch nói riêng cần nhanh chóng tìm ra cho mình một hướng đi bền vững hơn.

Chủ tịch HĐQT, TGĐ Cty CP Thuỷ sản & Thương mại Thuận Phước, Ông Trần Văn Lĩnh chia sẻ rằng, tính bền vững của từng ngành hàng trong hoạt động sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu thủy sản chưa cao, đặc biệt là liên kết chuỗi, quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện tại, nhà nước sẵn sàng ”trải chiếu hoa” xây dựng hạ tầng mời nhà đầu tư nước ngoài nhưng lại không bỏ ra dù chỉ là “tấm chiếu manh” để giúp nông dân xây dựng vùng nuôi. Trong khi đó, các DN không thể vừa chế biến, sản xuất, xuất khẩu đồng thời qui hoạch tốt vùng nuôi cho nông dân. Dẫn đến tình trạng chất lượng nuôi trồng thủy sản không đạt, giá thành nguyên liệu cao và không ổn định. Vì vậy, bản thân các DN rất mong chờ một động thái thiết thực tứ phía nhà nước để tạo đà cho sức phát triển của ngành.

Đồng cảm cũng với những mong chờ thiết thực từ phía DN, ông Nguyễn Thanh Tùng- Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản cho rằng, trong thời gian sớm nhất chúng ta cần thiết phải tổ chức đánh giá nguồn lợi thủy sản để làm căn cứ cho việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản và bố trí tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp. Qua đó áp dụng những công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện nghề cá của nước ta; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ bảo quản sản phẩm sau khai thác, đặc biệt đối với đội tàu đánh bắt xa bờ. Tăng trưởng kinh tế thủy sản đã đến lúc chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu và theo hướng bền vững. Nhiệm vụ khoa học công nghệ thủy sản giai đoạn này là tăng hiệu quả kinh tế, tăng đóng góp cho ngân sách, đảm bảo thu nhập cho người lao động nghề cá. Phát triển công nghệ sau thu hoạch thủy sản là một hướng đi cần được quan tâm nhiều hơn.

Thứ trưởng NN- PTNT Vũ Văn Tám cũng nhấn mạnh rằng, ngành thủy sản cần phát triển thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, ngành cũng cần hình thành các trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm, đảm bảo phát triển hài hòa, đồng bộ và lâu bền vì lợi ích tổng thể. Hơn lúc nào hết, trong giai đoạn phát triển từ nay đến 2020 ngành cần tới 60.857 tỉ đồng để phát triển, trong đó, 30.000 tỉ đồng dành cho phát triển lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; 24.257 tỉ đồng phát triển lĩnh vực chế biến thủy sản và 6.600 tỉ đồng phát triển lĩnh vực khai thác thủy sản.

Tuy nhiên, để có được số tiền đáp ứng nhu cầu phát triển ngành trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn như hiện nay lại là điều không dễ dàng, và như một số chuyên gia đầu ngành nông nghiệp nhận định, năm 2012 nông nghiệp được xem là ngành đầu tư mũi nhọn của nền kinh tế, tuy nhiên cần phải có lộ trình, căn cứ vào bản quy hoạch cụ thể để “rót” vốn một cách hiệu quả. Mặt khác cũng cần định vị những chuyên ngành hẹp, những cơ sở mà số tiền đầu tư vào đó có thể thúc đẩy ngành phát triển. Nếu không sẽ vấn chỉ là “bình mới rượu cũ” mà thôi - chuyên gia lập luận.

Ông Chu Tiến Vĩnh - Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Bộ NN- PTNT:

Cần cải thiện mạng lưới số liệu thống kê

Những thách thức từ giá nhiên liệu tăng cao, chất lượng tàu thuyền khai thác xuống cấp, nguồn lợi thủy sản cạn kiệt đã khiến cho ngành thủy sản đứng trước áp lực buộc phải thay đổi để tồn tại. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là tìm kiếm mô hình cộng đồng quản lý nguồn lợi thủy sản bền vững, hướng chuyển đổi, giảm tàu thuyền công suất nhỏ mà không ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Do đặc thù hệ thống ngư trường trải rộng, số lượng tàu thuyền lớn và có tới hơn 20% chưa đăng ký, trong khi số lượng thanh tra chuyên ngành thủy sản còn khiêm tốn, chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, trước mắt ngành thủy sản cần cải thiện mạng lưới số liệu thống kê, nhân rộng mô hình hợp tác xã trong khai thác, tiêu thụ hải sản từ đó tạo ra cơ cấu nghề khai thác thủy sản hợp lý, thân thiện với môi trường bằng cách: Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, từ những nghề gây tổn hại lớn đến nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của các loài thủy sản sang nghề ít gây tổn hại đến nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của chúng hoặc những nghề khác ngoài khai thác thủy sản; chuyển đổi nghề sử dụng nhiều nhiên liệu trong khai thác hải sản sang những nghề ít tiêu hao nhiên liệu hơn. Ngoài ra, Bộ NN- PTNT cần phải nhanh chóng ban hành và kiện toàn khả năng giám sát việc thực thi các quy định cụ thể liên quan đến hoạt động khai thác hải sản nói chung, đặc biệt ở vùng ven bờ thông qua các mô hình mạnh, có quy mô cộng đồng về quản lý, khai thác, tiêu thụ các sản phẩm cho ngư dân.

Ông Trần Quốc Thắng - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ:

Đánh giá lại thực trạng nuôi trồng thủy sản

Cần đánh giá lại thực trạng nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua đã hợp lý chưa, đặc biệt là đánh giá những mặt tác động xã hội, môi trường để có mục tiêu và giải pháp phát triển cụ thể và phù hợp. Ngoài ra, cần có những giải pháp đột phá cho nuôi trồng thủy sản, trong đó tập trung vào giống, chủ động về thức ăn, quy trình nuôi trồng và môi trường. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp cùng vào cuộc. Gắn bảo tồn với nuôi trồng thủy sản để từ đó phát triển các ngành kinh tế-xã hội khác; Xác định vùng nuôi trồng chủ lực với việc nuôi loại thủy sản nào cho phù hợp…

Nguyễn Thanh