Quảng Ngãi: Quyết tâm trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020

11:19:13 | 13/8/2013

Từ một tỉnh chậm phát triển, trong những năm gần đây kinh tế Quảng Ngãi có bước chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp, dịch vụ và đã đạt được những thành tựu to lớn, mạnh mẽ vươn lên trở thành địa phương có tốc độ phát triển kinh tế năng động của khu vực và ngày càng khẳng định vị thế của tỉnh trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, phát triển. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum, Chủ tịch Cao Khoa khẳng định: “Với đà phát triển như hiện nay, quyết tâm trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 là điều mà Quảng Ngãi hoàn toàn có thể thực hiện được”. Công Luận thực hiện.

Thưa ông, sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và sau 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, đến nay Quảng Ngãi đã gặt hái được những thành công nào trong phát triển kinh tế?

Giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Quảng Ngãi đạt 18,66%/năm và 2 năm 2011-2012 là 6,8%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng trong GDP, ngành công nghiệp - xây dựng từ 30% năm 2005 tăng lên 59,05% năm 2011 và 60,8% năm 2012; tỷ trọng ngành nông - lâm - thuỷ sản từ 34,8% năm 2005 giảm xuống còn 18,8% năm 2011 và 17,6% năm 2012.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2005 đạt 529 tỷ đồng thì đến năm 2011 đạt 19.537 tỷ đồng; năm 2012 đạt 19.424 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 11.128 tỷ đồng và Quảng Ngãi được xếp trong nhóm mười tỉnh thành của Việt Nam có đóng góp ngân sách lớn cho TW. Với hạt nhân tăng trưởng là KKT Dung Quất, đặc biệt là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất - Nhà máy Lọc dầu đầu tiên của Việt Nam đã đem lại cho kinh tế Quảng Ngãi bước tăng trưởng vượt bậc và là nhân tố mang tính động lực để Quảng Ngãi ngày càng phát triển năng động hơn, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện.

Riêng vấn đề đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân được tỉnh chú trọng ra sao?

Trong 2 năm (2011- 2012), Quảng Ngãi đã huy động nhiều nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho người có công trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đã được các cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng đến cuối đời; 90% gia đình chính sách có cuộc sống vật chất, tinh thần cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú; gần 85,3% xã, phường, thị trấn đã được công nhận làm tốt chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công.

Giải quyết việc làm đạt kết quả khá, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần lao động công nghiệp, dịch vụ. Trong 2 năm đã giải quyết việc làm cho 71.400 lao động, bình quân mỗi năm 35.700 lao động. Công tác giảm nghèo có nhiều tiến bộ, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo được triển khai đồng bộ và đạt kết quả tích cực, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Trong 2 năm 2011-2012, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,14%/năm.

Các chính sách an sinh xã hội như hỗ trợ về y tế, giáo dục, trợ cấp khó khăn, bảo trợ xã hội được triển khai có hiệu quả. Trong 2 năm đã hỗ trợ cho 141.100 hộ nghèo; trợ cấp khó khăn cho 75.034 hộ; miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho 173.984 học sinh.

Phát triển công nghiệp và phát triển đô thị là 2 trong số 3 nhiệm vụ đột phá của tỉnh trong giai đoạn mới 2011 - 2015. Vậy đến nay công cuộc triển khai 2 nhiệm vụ đột phá này đã thu được những kết quả khả quan nào?

Nghị quyết Ðại hội lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2010-2015) Ðảng bộ tỉnh xác định phấn đấu đến năm 2020 đưa Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp với vị trí cao trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Để thực hiện mục tiêu đề ra, ngay sau Đại hội Ðảng bộ, Tỉnh Ủy Quảng Ngãi đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-TU về phát triển công nghiệp và Nghị quyết 02/NQ-TU về phát triển đô thị.

Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 01, ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục có bước phát triển đáng ghi nhận: Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 1994) năm 2012 đạt 18.705,205 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 11.320,09 tỷ đồng; tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân giai đoạn 2011-2012 là 2,6%/năm; tỷ trọng công nghiệp chiếm 56,5% trong GDP tỉnh; giá trị xuất khẩu tăng 21,68%/năm. Kết cấu hạ tầng các KCN, KKT Dung Quất tiếp tục được đầu tư; công tác thu hút đầu tư được đẩy mạnh; trong 2 năm đã cấp phép cho 46 dự án đầu tư mới, với tổng vốn đăng ký 16.499,49 tỷ đồng, trong đó có một số dự án lớn có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề, động lực thúc đẩy phát triển KT - XH tỉnh như: dự án KCN - đô thị và dịch vụ VSIP, dự án Nhà máy nhiệt điện Dung Quất của Tập đoàn Sembcorp...

Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết 02, phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh đạt được một số kết quả nhất định. KT - XH khu vực đô thị có bước phát triển, tốc độ tăng giá trị sản xuất khu vực đô thị bình quân hàng năm đạt 5,65%. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị được quan tâm (trong 2 năm có 95 dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được triển khai ở các đô thị, với tổng mức đầu tư từ vốn ngân sách trên 1.300 tỷ đồng), tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh tính đến năm 2012 đạt 14,74%; môi trường văn hóa, nếp sống văn minh đô thị từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo bình quân tại các đô thị đến cuối năm 2012 còn 7,34%.

Trên cơ sở đánh giá tình hình phát triển công nghiệp và xây dựng đô thị thời gian qua, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã điều chỉnh một số chỉ tiêu đến năm 2015 cho phù hợp thực tế, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong GDP đạt 60-61%. Tp.Quảng Ngãi giữ nguyên mục tiêu xây dựng thành phố đạt chuẩn đô thị loại 2 vào năm 2015; tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2015 từ 40% - 43% xuống còn 17,5%,...

Quảng Ngãi đã quan tâm thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông phục vụ phát triển KT - XH như thế nào?

Chúng tôi rất coi trọng đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp. Về vấn đề này tỉnh rất cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía TW.

Hiện nay để đến với Quảng Ngãi có nhiều con đường khác nhau, quốc lộ 1A đoạn Quảng Nam - Quảng Ngãi đang mở rộng. Một tín hiệu vui nữa là Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải đã có quyết định trong năm 2013 sẽ khởi công xây dựng Đường cao tốc Quảng Ngãi – Đà Nẵng. Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi hoàn thành sẽ rút ngắn thời gian đi lại giữa các tỉnh, thành phố là Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Đồng thời, giảm tải cho quốc lộ 1A và kết nối vận chuyển quốc tế giữa 3 nước Lào - Campuchia - Việt Nam qua hành lang kinh tế Đông - Tây đến các cảng biển miền Trung của Việt Nam.

Ngoài ra dự án cải tạo trang thiết bị của Sân bay Chu Lai (gần Quảng Ngãi) để máy bay Airbus có thể hạ cánh cũng sẽ mang lại nhiều lợi thế cho tỉnh nhà trong thu hút đầu tư. Quảng Ngãi cũng đã có sự cam kết, ủng hộ của Chính phủ để triển khai một số công trình cơ sở hạ tầng mang tính cấp bách, tạo đột phá trong phát triển kinh tế tỉnh nhà như Đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh, Đường Tịnh Phong – Dung Quất…

Phấn đấu đến năm 2015, tỉnh hoàn thành các dự án lớn, các dự án trọng điểm như: Đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh giai đoạn 1, Đường bờ Nam sông Trà Khúc; triển khai thực hiện dự án Đường Tịnh Phong - Cảng Dung Quất 2; hoàn thiện hạ tầng KCN Tịnh Phong, Quảng Phú; từng bước đầu tư phát triển hạ tầng KKT Dung Quất, hạ tầng các đô thị; tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng hạ tầng KCN VSIP Quảng Ngãi.

Định hướng đến năm 2020, Quảng Ngãi phấn đấu cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển KT – XH giữ vai trò vô cùng quan trọng. Vậy ông có thể chia sẻ thêm về định hướng thu hút đầu tư của tỉnh trong thời gian tới?

Với những chuyển biến tích cực trong công tác thu hút đầu tư trong thời gian qua, nhất là năm 2012, tôi tin chắc Quảng Ngãi đang có một hình ảnh đẹp trong mắt các nhà đầu tư.

Từ nền tảng quan trọng này, Quảng Ngãi đã và đang tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư. Ưu tiên đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời sẽ tăng cường công tác quản lý, giám sát việc triển khai thực hiện dự án, tháo gỡ những vướng mắc, đặc biệt trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư. Tỉnh cũng sẽ thúc đẩy và hỗ trợ triển khai nhanh các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN để tăng cường thu hút các dự án công nghiệp sạch, công nghiệp nhẹ…

Với những lợi thế của mình, đặc biệt là lợi thế về KKT Dung Quất, trong những năm đến Quảng Ngãi sẽ tiếp tục xúc tiến đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực theo quy hoạch được phê duyệt mà KKT Dung Quất có lợi thế cạnh tranh như hoá dầu, cơ khí, công nghiệp nặng, các ngành công nghiệp nhẹ… Tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp lọc hoá dầu và sau hoá dầu, cơ khí chế tạo, luyện kim, công nghiệp phục vụ kinh tế biển... Xây dựng và phát triển một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có sức cạnh tranh và có khả năng phát triển ổn định trong thị trường khu vực. Ngoài ra tỉnh cũng sẽ tập trung mở rộng phát triển KKT Dung Quất tạo vùng động lực phát triển công nghiệp với các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp quy mô lớn, hình thành các vùng kinh tế công nghiệp khác để tạo dựng mối liên kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến.

Với những lợi thế về điều kiện sẵn có, cùng với những chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn, Quảng Ngãi đã và đang là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tôi tin quyết tâm trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 là điều mà Quảng Ngãi có thể thực hiện được.