10:11:31 | 5/12/2013
“Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sàng lắng nghe và mong muốn được đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp nhằm làm cho môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam ngày một hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định tại Diễn dàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2013 diễn ra vào ngày 3/12 tại Hà Nội.
Với chủ đề “Giai đoạn mới của tiến trình cải cách kinh tế: từ chương trình tới hành động”, Diễn đàn là cơ hội để các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước đề xuất những kiến nghị thiết thực, cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, đồng thời cũng là dịp để các cơ quan Chính phủ thể hiện những động thái tích cực và quyết liệt trong việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn nhằm củng cố niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Theo Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô trong ngắn, trung và dài hạn, thực hiện đồng bộ xử lý nợ xấu và các vấn đề còn tồn tại trong lĩnh vực ngân hàng, tổ chức tín dụng, phát huy vai trò của công ty mua bán nợ. Trong lĩnh vực đầu tư công, Chính phủ sẽ thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn, hạn chế đầu tư dàn trải, lãng phí, đảm bảo hiệu quả của đầu tư công, tạo điều kiện cho xã hội cùng tham gia đầu tư.
.jpg)
Đặc biệt, về tái cơ cấu DNNN, Phó Thủ tướng cho biết, Chính phủ đã có quan điểm rõ ràng và theo đúng lộ trình, đó là đến năm 2015 sẽ chỉ còn 600 doanh nghiệp và đến năm 2020 sẽ chỉ giữ lại 300 doanh nghiệp. Trong thời gian qua, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước chậm vì ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, vì vậy thời gian tới sẽ đẩy nhanh hơn. Năm 2012, cả nước chỉ cổ phần hóa được 34 doanh nghiệp, những tháng đầu năm 2013, con số này chỉ dừng ở gần 100 doanh nghiệp, so với kế hoạch là 175 DN.
Ông Simon Andrew, Giám đốc khu vực của Công ty tài chính Quốc tế (IFC) tại Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Lào- đại diện cho các đối tác cho rằng, năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều việc phải làm để thực thi việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, giải quyết các vấn đề liên quan đến sở hữu chéo, nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong khu vực Nhà nước. Ngoài ra, Việt Nam cần đẩy nhanh tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Phát biểu tại Diễn đàn, TS. Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch VCCI cho rằng, nỗ lực của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thời gian qua như “giải cứu”, “giãn giảm thuế”… đã có những tác động nhất định, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng họ chưa thực sự được hưởng lợi. Để nhanh chóng cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam trong thời gian tới, VCCI đề xuất hai nhóm giải pháp lớn bao gồm: đẩy nhanh cải cách DNNN và xây dựng một chương trình gia tốc để cải thiện môi trường đầu tư.
Về nhóm giải pháp thứ nhất, ông Lộc cho rằng, cần nhanh chóng cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, làm cho khu vực này hoạt động hiệu quả hơn. Theo đó, cần áp dụng triệt để các nguyên tắc, kỷ luật thị trường trong hoạt động của DNNN, như hạch toán đầy đủ các chi phí vốn, buộc doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp phải chịu đầy đủ trách nhiệm trong hoạt động của mình, tách bạch các hoạt động kinh doanh và hoạt động chính trị - xã hội. Bảo đảm không phân biệt đối xử, cạnh tranh thực sự bình đẳng giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân. Áp dụng các nguyên tắc quản trị hiện đại, tăng tính minh bạch trong quản trị đối với DNNN. Tách bạch chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện quyền sở hữu nhà nước. Đặc biệt, Chính phủ cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và thoái vốn của DNNN ra khỏi lĩnh vực kinh doanh để chuyển một phần nguồn lực sang các công việc khác cấp bách và cần thiết hơn.
Về nhóm giải pháp thứ hai, Chính phủ cần xây dựng và thực hiện một chương trình tăng tốc để trong vòng 5 năm tới Việt Nam trở thành một quốc gia hàng đầu của khu vực ASEAN về sự thông thoáng và hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Muốn thực hiện được mục tiêu này, Chính phủ cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn nữa các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: gia nhập thị trường, xuất nhập khẩu, thuế, đất đai, đầu tư, xây dựng, tài nguyên môi trường, lao động… Ngoài ra, cần thường xuyên rà soát, cắt giảm mạnh chi phí thực hiện thủ tục hành chính, tăng cường đối thoại giữa Chính phủ và các nhà đầu tư, áp dụng các thủ tục hành chính điện tử, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trách nhiệm và sự liêm chính của đội ngũ cán bộ… Việc thực hiện các gói giải pháp của đề án 30 cần lấy lại được gia tốc của giai đoạn khởi đầu.
Để có được một thước đo khách quan về kết quả thực tiễn của các giải pháp cải cách hành chính của Chính phủ, VCCI cũng đề nghị giao cho các Phòng Thương mại và các hiệp hội doanh nghiệp tiến hành những khảo sát, nghiên cứu độc lập đánh giá định kỳ về chất lượng thực hiện thủ tục hành chính trong các ngành, lĩnh vực nêu trên và đưa ra những khuyến nghị với Chính phủ. Việc nghiên cứu và công bố chỉ số PCI của VCCI thời gian qua là một ví dụ thành công về cách tiếp cận này.
Theo TS Vũ Tiến Lộc khẳng định, cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang trông chờ vào những chương trình có tính đột phá hơn, những hành động cụ thể và thiết thực hơn. Với những nỗ lực tái cấu trúc và đổi mới thể chế trong nước đang được khởi động mạnh mẽ cùng với tiến trình hội nhập tích cực thông qua việc tích cực đàm phán, ký kết các hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP), hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, và các hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương khác sẽ tạo lập những “đường ray” mới cho con tàu kinh tế Việt Nam tiến về phía trước.
Ông Steven Winkelman, chủ tịch Amcham
Đây chính là thời điểm VN cần tiến hành những cải cách cần thiết để tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn, từ đó các quyết định được đưa ra nhanh hơn, các thủ tục trở nên đơn giản hơn, các quy định được thực thi một cách công bằng và các công ty cạnh tranh dựa trên giá trị thực chất của họ - bao gồm khả năng tiếp cận nguồn vốn, đất đai và nắm bắt cơ hội.
AmCham tin tưởng chắc chắn rằng Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ mang lại cơ hội mới giúp Việt Nam đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đổi mới mô hình tăng trưởng của đất nước. Bên cạnh đó, TPP còn giúp khắc phục những khó khăn trong việc cải tổ các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam.
Ông Preben Hjortlund, Chủ tịch Eurocham
EU và Việt Nam đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (Hiệp định FTA). Hiệp định này dự kiến sẽ hoàn tất và được ký kết vào cuối năm 2014. Hiệp định này có thể mở rộng hơn nữa quan hệ thương mại và cơ hội đầu tư vì lợi ích của cả EU và Việt Nam. Theo Hiệp định FTA, GDP của Việt Nam ước tính sẽ tăng hơn 15%, tiền lương thực tế của lao động có tay nghề cao có thể tăng khoảng 12%, tiền lương thực tế của lao động phổ thông có thể tăng khoảng 13% và giá trị xuất khẩu có thể tăng gần 35%. Tuy nhiên, những lợi ích tiềm năng từ FTA có thể bị suy giảm nếu Việt Nam không cam kết hoàn toàn và bảo đảm thực thi hiệu quả các quy định thương mại quốc tế.
Ông Sato Motonobu, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam
Các doanh nghiệp Nhật Bản chưa hài lòng với môi trường đầu tư ở một số điểm như: việc thiếu hụt nhân lực quản lý, tính bất ổn của việc cung cấp điện, việc thiếu hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật cứng nhắc (bao gồm hệ thống thuế), việc thiếu nguồn cung cấp nguyên vật liệu (tỷ lệ mua nguyên vật liệu tại nước sở tại thấp), việc chưa hình thành ngành công nghiệp phụ trợ cũng như việc thiếu minh bạch trong hệ thống xã hội. Hay việc dù có lao động giỏi, nhưng trong khi năng suất lao động không tăng mà chi phí tiền lương cứ tiếp tục tăng lên, thì sẽ dẫn đến rủi ro dịch chuyển đầu tư sang nước khác.
Trong việc thực hiện PPP (Public Private Partnership) không thể thiếu sự quan tâm của Chính phủ. Để doanh nghiệp tư nhân có thể cung cấp dịch vụ với phí thích hợp, thì cần có sự hỗ trợ của Chính phủ về mặt tài chính. Để thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ quan chính quyền địa phương cần có trách nhiệm chịu chi phí di dời và thu hồi đất đai. Để có những dự án PPP khả thi thì cần phải có quỹ Viability Gap Funding (VGF: quỹ hỗ trợ nhằm mục đích lấp lỗ hổng tài chính khiến dự án trở nên khả thi), (cần có để tạo lập các dự án ủy thác cho doanh nghiệp tư nhân) đối với các dự án có tính sinh lợi thấp), và cần sự hỗ trợ của Chính phủ liên quan đến những việc như thu hồi đất đai, rủi ro do tỷ giá, kế hoạch hỗ trợ để đảm bảo khả năng chi trả của bên mua.
Chúng tôi biết việc hợp nhất Quyết định số 71 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 108 đang được tiến hành, nhưng chúng tôi cho rằng cần tạo dựng khung pháp lý (ví dụ như cho phép thế chấp tài sản của dự án để đảm bảo cho khoản vay, quyền tham gia/can thiệp vào dự án của bên cho vay (Step-in rights), chủ dự án PPP có quyền chuyển dự án cho bên cho vay) để bảo vệ quyền lợi của bên cho vay.
Ông Seck Yee Chung, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore
Việt Nam hiện còn thiếu hoặc chưa thực thi đầy đủ những quy trình, cơ chế để bảo đảm DNNN chịu trách nhiệm trước cổ đông. Tình trạng này có thể dẫn đến hoạt động thiếu hiệu quả, sử dụng nguồn vốn nhà nước sai mục đích.
Để hoạt động, cạnh tranh hiệu quả, DNNN cần tuân thủ các quy luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân khác. Để bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, Chính phủ cần phân biệt rõ vai trò hoạch định chính sách và chủ sở hữu doanh nghiệp của mình. Là người hoạch định chính sách, Chính phủ phải điều tiết thị trường theo hướng không phân biệt đối xử giữa DNNN và tư nhân. Là “chủ sở hữu doanh nghiệp”, Chính phủ phải bảo đảm DNNN hoạt động hiệu quả, bền vững, và để làm điều đó đòi hỏi phải có cơ chế quản trị hiệu quả, minh bạch.
Để giải quyết những vấn đề này, Chính phủ đã thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (“SCIC”) dưới dạng công ty đầu tư thuộc sở hữu nhà nước, thay mặt Chính phủ quản lý phần vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, có vẻ như SCIC còn cần thêm thời gian, nguồn lực để đủ khả năng đảm nhiệm tốt nhiệm vụ này.
Ông Sigmund Strømme, Chủ tịch Phòng Thương mại Bắc Âu tại TP. Hồ Chí Minh
Nhiều doanh nghiệp thành viên của chúng tôi hiện vẫn gặp phải những vấn đề lớn do chi phí vận tải, kho vận tăng, xuất phát từ tình trạng tắc nghẽn cảng, thiếu năng lực bốc xếp tại các cảng lớn của Việt Nam. Để Việt Nam có thể duy trì lợi thế cạnh tranh so với các nước láng giềng, điều quan trọng là phải nâng cao năng lực xếp dỡ hàng hóa và giảm chi phí.
Các cảng hiện nay cần phải được nâng cấp và các cảng mới cần được xây dựng, điều này áp dụng cho cả các cảng con-ten- nơ và tàu chở hàng, tuy nhiên mức trần cổ phần nước ngoài thường được giới hạn ở mức 49 %. Điều quan trọng là người sử dụng - hầu hết là các công ty vận tải nước ngoài, tham gia vào những khoản đầu tư lớn như vậy để đảm bảo thành công. Chúng tôi đề nghị rằng để thúc đẩy đầu tư trong lĩnh vực quan trọng này, chính sách cần được nới lỏng để cho phép ít nhất 70% hoặc 100% cổ phần nước ngoài trong các dự án đầu tư vận tải và cảng.
Chúng tôi cũng đề nghị tăng tốc việc di dời các cảng chính ra khỏi trung tâm TP Hồ Chí Minh để chuyển dòng hàng hóa sang các địa điểm vận chuyển dễ tiếp cân hơn với chi phí hiệu quả hơn ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Quỳnh Chi
từ ngày 18 – 19/12/2025
VCCI
từ 11/11/2025 đến 30/11/2025
VCCI