Sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005: Cần ban hành cơ chế quản lý hệ thống đăng ký DN thống nhất ở một cơ quan

10:15:48 | 11/12/2013

“Luật Doanh nghiệp năm 2005 ban hành đã tác động tích cực đối với xã hội, nhất là hoạt động của các doanh nghiệp trong cả nước. Trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp những năm vừa qua, Luật Doanh nghiệp đã phát huy tác dụng triệt để, giúp các doanh nghiệp chuyển đổi thuận lợi và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp đã ban hành cách đây gần 10 năm, nhiều chế độ chính sách của nhà nước đã thay đổi, trước tình hình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trình độ quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước cũng được nâng cao. Để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, lành mạnh cho doanh nghiệp, không bị lạc hậu với sự phát triển từng ngày của xã hội, việc sửa đổi bổ sung Luật Doanh nghiệp 2005 cho phù hợp với tình hình hiện nay là rất cần thiết”.

Đây là ý kiến của ông Mai Đình Mạnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp Kỹ thuật Điện Việt Nam tại buổi “Tọa đàm lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp và chuyên gia về các vấn đề bất cập cần sửa đổi của Luật Doanh nghiệp 2005” do VCCI tổ chức vừa qua tại Hà Nội.

Rà soát lại nhiều luật chuyên ngành để bổ sung hiệu chỉnh cho phù hợp

Theo ông Mạnh, Luật Doanh nghiệp năm 2005 trong quá trình thực hiện còn nhiều bất cập, cần có sự nghiên cứu chuyên sâu để giải quyết tận gốc. Trong quá trình áp dụng Luật còn nhiều chồng chéo giữa Luật này và Luật khác trong cùng công việc như Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm …; về vấn đề đăng ký ngành nghề kinh doanh và thành lập doanh nghiệp. Các văn bản hướng dẫn dưới luật đôi khi mỗi doanh nghiệp, mỗi người có một cách hiểu khác nhau. Để xử lý những bất cập này thì đã có nhiều văn bản điều chỉnh, từ đó lại gây lúng túng cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.

Ông Mạnh cũng cho rằng, Luật DN 2005 còn nhiều kẽ hở dẫn đến các doanh nghiệp lách Luật như: Vốn điều lệ không có cơ sở để kiểm tra, liệu doanh nghiệp có vốn thật hay không, cơ số vốn có tồn tại và duy trì trong tài khoản ngân hàng hay sau đó lại được rút hết sau khi đã nhận được giấy phép đăng ký kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động. Ngành nghề kinh doanh thì cơ sở xin nghề gì đều được đáp ứng, trừ một số nghề kinh doanh đặc thù. Tuy nhiên trong quá trình xin phép ngành nghề kinh doanh của đơn vị khi chuyển đổi cơ chế có nơi lại đòi hỏi Giám đốc phải có các chứng chỉ cần thiết của ngành nghề đó, đấy là điều khó cho các doanh nghiệp….

Vì vậy, theo ông Mạnh, khi sửa đổi Luật doanh nghiệp năm 2005 cần rà soát các Luật chuyên ngành để có sự bổ sung, hiệu chỉnh cho phù hợp và đồng bộ chung hệ thống pháp luật hiện hành và các Luật ban hành có sự thống nhất áp dụng mới phát huy tính hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, bền vững hơn.

Theo Luật gia Cao Bá Khoát, Công ty tư vấn K và Cộng sự, phạm vi điều chỉnh của Luật DN là việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 3 LDN) còn phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh nhưng khi đi vào chi tiết cụ thể thì hai luật này lại chồng chéo nhau. Liên quan đến vấn đề hoạt động của doanh nghiệp, đáng lẽ ra Luật đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhưng trên thực tế lại điều chỉnh cả việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp bằng quy định tại Điều 20 LDN 2005 là Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Quy định này đã dẫn đến sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, đăng ký doanh nghiệp là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp xuất phát từ ý tưởng thành lập doanh nghiệp, còn việc doanh nghiệp hoạt động hay đầu tư như thế nào là quá trình phát triển ý tưởng kinh doanh. Vì vây, ông Khoát cho rằng, cần ban hành cơ chế quản lý hệ thống đăng ký doanh nghiệp thống nhất ở một cơ quan.

Đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Thị Yến, Khoa Pháp luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội cho rằng, khi người kinh doanh muốn thành lập doanh nghiệp trong bất kỳ lĩnh vực nào, họ sẽ đến cơ quan ĐKKD để xin cấp Giấy chứng nhận ĐKDN. Sau khi đã có tư cách pháp lý, nếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thông thường, họ sẽ được quyền hoạt động ngay; nếu hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, họ phải thoả mãn các quy định của các cơ quan quản lý chuyên ngành. Như thế, các cơ quan quản lý chuyên ngành không mất đi quyền quản lý doanh nghiệp trong lĩnh vực mà mình quản lý, hơn nữa các cơ quan này cũng thực hiện đúng chức năng và không “đụng chạm” đến quyền khai sinh tư cách pháp lý đối với doanh nghiệp của cơ quan ĐKKD. Quy định như vậy cũng tránh những rắc rối không cần thiết cho các nhà đầu tư nước ngoài, khi họ được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận ĐKKD, bởi vì khi có những thay đổi trong quá trình hoạt động, việc nhà đầu tư nước ngoài đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hay Ban Quản lý các khu kinh tế đặc biệt để thay đổi nội dung giấy chứng nhận đầu tư sẽ phức tạp hơn đến cơ quan ĐKKD.

Tuy nhiên, theo TS Yến, giải pháp này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực đặc thù sẽ phải làm 2 thủ tục: thủ tục ĐKKD và thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh. Vì thế, ở thủ tục ĐKKD, cần hết sức đơn giản và quy định chung như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thông thường. Cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ quản lý chặt hơn ở thủ tục cấp giấy phép kinh doanh để đảm bảo doanh nghiệp có tư cách pháp lý như các doanh nghiệp thông thường, đồng thời vẫn đáp ứng đủ điều kiện khi kinh doanh trong các lĩnh vực cần quản lý chặt để tránh rủi ro cho các chủ thể có liên quan.

Đơn giản hóa thủ tục giải thể DN

Theo TS Yến, giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 1 cách tự nguyện. Do vậy khi doanh nghiệp giải thể, yêu cầu quan trọng mà pháp luật đặt ra là việc chấm dứt hoạt động này không được ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là các chủ nợ. Cụ thể, điều kiện để doanh nghiệp được giải thể là phải “bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác” (khoản 2 điều 157 LDN). Thủ tục giải thể phải thực hiện theo điều 158 LDN. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: nếu doanh nghiệp không tuân thủ đầy đủ các điều kiện này mà tự động chấm dứt hoạt động, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có vào cuộc không? Sẽ xử lý như thế nào nếu doanh nghiệp giải thể nhưng không thanh toán được hết nợ và các nghĩa vụ tài sản khác; hay không thực hiện đúng thủ tục theo quy định của pháp luật? Có vẻ những chế tài áp dụng trong trường hợp này không được đặt ra. Vậy những quy định chặt chẽ như trên có ý nghĩa gì?

Theo TS Yến, Luật cần linh hoạt hơn trong việc xử lý giải thể đối với doanh nghiệp. Cụ thể, khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động theo thủ tục giải thể, về nguyên tắc doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện như trên. Bên cạnh đó, LDN nên để 1 cơ chế thứ hai là doanh nghiệp sẽ thoả thuận với chủ nợ và các chủ thể có liên quan về nghĩa vụ trả nợ, cách thức trả nợ, thời hạn trả nợ... cho phù hợp với thực tế tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ, toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp vào thời điểm giải thể là 3 tỷ đồng, nhưng khoản nợ là 7 tỷ; về nguyên tắc doanh nghiệp không đủ điều kiện giải thể mà phải thực hiện thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản (2004). Tuy nhiên, phá sản thì chủ nợ sẽ được gì? Có được trả nợ nhiều hơn so với giải thể không? Chắc chắn là không, vì chi phí cho thủ tục phá sản lớn hơn nhiều so với thủ tục giải thể, mà toàn bộ tiền của doanh nghiệp vẫn chỉ có vậy. Trong trường hợp này, doanh nghiệp và chủ nợ có quyền thoả thuận tiến hành giải thể không? Nếu có sẽ vi phạm quy định của LDN; nếu không quyền lợi của các chủ nợ có thể bị ảnh hưởng nếu chuyển qua thủ tục phá sản. Như vậy, nếu giữa chủ nợ và doanh nghiệp đạt được thoả thuận về vấn đề trả nợ, LDN nên cho phép các bên thực hiện thủ tục giải thể để vừa đơn giản cho các bên về thủ tục, vừa đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhiều doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng không thanh toán được nợ đã tự đóng cửa doanh nghiệp, gỡ biển hiệu, cắt đứt các liên lạc... Hay nói cách khác, doanh nghiệp tự chấm dứt hoạt động, “biến mất” khỏi thị trường mà không thông qua bất cứ thủ tục gì. Xảy ra tình trạng trên, 1 phần xuất phát từ các quy định pháp luật về giải thể và phá sản quá phức tạp, rườm rà, bó buộc các bên.

Do vậy, theo TS Yến, việc hoàn thiện quy định về giải thể doanh nghiệp theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà kinh doanh để họ rút lui khỏi thị trường 1 cách có trật tự, ít ảnh hưởng nhất đến thị trường và các chủ thể có liên quan.

Công khai, minh bạch điều lệ của doanh nghiệp

TS. LS Nguyễn Ngọc Khánh, Trưởng phòng Pháp chế Eurowindow Holding

Điều lệ không chỉ là “văn bản quy phạm nội bộ” của doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành bắt buộc đối với mọi thành viên, cổ đông và với chính doanh nghiệp đó, mà còn là “văn bản pháp lý nhằm cá thể hóa doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân độc lập (hoặc một chủ thể độc lập) và cụ thể trong quan hệ xã hội”; ngoài ra, trong nhiều trường hợp, với mức độ và phạm vi nhất định, điều lệ doanh nghiệp còn ràng buộc cả những người có liên quan, những đối tác của doanh nghiệp; do đó mọi thành viên, cổ đông và những người có liên quan hoàn toàn có quyền được nhận đầy đủ và chính xác các thông tin về doanh nghiệp thể hiện trong điều lệ.

Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2005 (sửa đổi) cần bổ sung quy định, theo đó, khi có yêu cầu của các thành viên, cổ đông và những người có liên quan, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ, trong thời hạn hợp lý, cung cấp điều lệ, bao gồm cả sửa đổi, bổ sung (nếu có) cho những người yêu cầu (với mức phí hợp lý). Trong trường hợp điều lệ doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung, thì điều lệ được sửa đổi, bổ sung đó chỉ có hiệu lực đối với người thứ ba sau khi doanh nghiệp đã thông báo hoặc thực hiện đăng ký tại Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Quy định về hình thức góp vốn, mua cổ phần

TS. Doãn Hồng Nhung, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn, mua cổ phần. Nhà đầu tư nước ngoài “ mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư” thì được coi là hình thức “ đầu tư trực tiếp”. Việc mua cổ phần mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư được coi là “ đầu tư gián tiếp”.

Tuy nhiên, vấn đề xác định khi nào thì việc góp vốn, mua cổ phần được xem là hoạt động đầu tư trực tiếp là cần thiết. Cả Luật Đầu tư năm 2005 và Luật DN 2005 và các văn sbản hướng dẫn thi hành không xác định rõ như thế nào là “ tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Chính sự thiếu sót này đã gây ra khá nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng đối với cả nhà đầu tư, cơ quan cấp phép đầu tư và cơ quan đăng ký kinh doanh. Tham khảo thông lệ quốc tế, nếu giá trị của khoản đầu tư nước ngoài không quá 10% tổng số vốn đầu tư thì được coi là đầu tư gián tiếp vì nhà đầu tư không đủ nhiều vốn để tác động đến quyền quản lý công ty.

Anh Mai