Đưa chính sách bảo hiểm nông nghiệp vào thực tế

15:40:32 | 18/1/2018

Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam mặc dù đã được triển khai khá đồng bộ và quyết liệt từ 2011, các cơ chế chính sách đã ban hành thực hiện khá đầy đủ, tạo điều kiện cơ sở để các doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức triển khai thực hiện nhưng bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam vẫn bộc lộ không ít những khó khăn, hạn chế.

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng cho nhu cầu trên 93 triệu dân trong nước, mà còn xuất khẩu sản phẩm nông sản tới 180 nước với giá trị xuất khẩu năm 2016 là 32,14 tỷ USD và năm 2017 ước đạt trên 36 tỷ USD. Tuy vậy, nông nghiệp là lĩnh vực luôn có độ rủi ro thiên tai, dịch bệnh cao. Hơn nữa, nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại song song nông nghiệp cổ truyền và nông nghiệp hàng hóa. Điều đó khiến ngành nông nghiệp chưa phát huy được những thế mạnh sẵn có.



Khó thu hút đầu tư vào nông nghiệp

Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI, bảo hiểm nông nghiệp là một sản phẩm bảo hiểm truyền thống nằm trong số hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ hiện hành trên thị trường bảo hiểm thế giới (bao gồm trên 250 sản phẩm bảo hiểm tài sản, gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người và xấp xỉ 100 sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm).

“Việt Nam là một nước nông nghiệp, nhưng hàng năm thiên tai, dịch bệnh đã cướp đi của người nông dân khối tài sản ước tính 1,5% GDP. Vì vậy, người nông dân cần một sự bảo đảm cho thành quả và công sức lao động của mình và bảo hiểm nông nghiệp chính là hi vọng chuẩn xác nhất. Bảo hiểm nông nghiệp được coi là tấm khiên vững chắc, đưa ngành nông nghiệp ngày càng tiệm cận hơn với sản xuất hàng hóa, mà điều đó phải bắt nguồn từ chính các doanh nghiệp và sự thay đổi tư duy từ người nông dân”, ông Phòng nói.

Tuy nhiên, ông Phòng cho biết, dù Chính phủ cũng như ngành nông nghiệp liên tục có chính sách “trải thảm” để mời gọi các doanh nghiệp tăng đầu tư, nhưng đến nay, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này vẫn quá khiêm tốn. Một trong những lý do hàng đầu là đầu tư vào nông nghiệp lợi nhuận thấp, rủi ro cao.

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam, tỷ trọng doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm dưới 1% trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, và đa phần có quy mô vốn nhỏ, số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 55%.

Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp đầu tư bài bản, chuyên nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp dựa vào việc khai thác nguồn lực tự nhiên như đất đai, nước, chưa quan tâm đầu tư một cách căn cơ, ứng dụng khoa học công nghệ, hoặc đầu tư thiết bị hiện đại, chế biến sâu để tăng giá trị gia tăng. Trong khi đó, sự liên kết giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học và nông dân trong chuỗi giá trị sản xuất còn chưa chặt chẽ, dẫn đến chi phí cao, khả năng cạnh tranh thấp, chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt đoạn, hiệu quả thấp.

Chính vì vậy, năng suất lao động của nông dân Việt Nam hiện thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á, nông dân khó làm giàu trên chính mảnh ruộng của mình. Mặc dù ngành nông nghiệp có nhiều tiềm năng và dư địa phát triển, nhưng đến nay mới chỉ có một số ngành hàng có quy mô lớn, sản xuất theo chuỗi như sữa, trứng gia cầm, cá, thủy sản. Còn lại sản xuất vẫn cơ bản manh mún, thực phẩm thiếu an toàn khiến người dân bất an. Chính sách dành cho ngành nông nghiệp nhiều nhưng không thiết thực. Hơn nữa, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương chưa tốt.

Tiến tới hình thành Luật Bảo hiểm nông nghiệp

Để nông nghiệp thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao, theo ông Phòng, các bộ, ngành cần lựa chọn ngành hàng chủ lực, thành lập những vùng nông sản tập trung, chọn ngành hàng ưu tiên từ lợi thế của vùng để cạnh tranh với thế giới, tạo ra những thương hiệu nông sản có tính chất vùng miền và từ đó áp dụng bảo hiểm nông nghiệp một cách linh hoạt để cho những vùng chuyên canh này phát huy hiệu quả.

TS Đặng Kim Khôi - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD) cho rằng, trong giai đoạn tới, Chính phủ cần xem bảo hiểm nông nghiệp là một sản phẩm được vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó, Chính phủ hỗ trợ để tạo thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của thị trường (thiết lập khung pháp lý phù hợp, hỗ trợ chiến dịch truyền thông, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp dữ liệu …); cần tiếp tục cải thiện hệ thống chính sách cho hệ thống bảo hiểm nông nghiệp, tiến tới hình thành Luật bảo hiểm nông nghiệp. Cùng với đó là sự giám sát chặt chẽ trong việc thực hiện và đưa ra quyết định, thay đổi nhanh chóng để cải thiện sản phẩm bảo hiểm thông qua thiết lập hệ thống thông tin phản hồi hiệu quả, bằng việc xây dựng hệ thống thông tin bảo hiểm nông nghiệp và thiết lập quy trình quản lý thích hợp để giám sát và tối ưu hóa đầu tư công và đầu tư tư nhân của doanh nghiệp bảo hiểm; và thiết lập chế tài giám sát chặt chẽ các thủ tục, các quy trình sản xuất, đánh giá thiệt hại và thanh toán bồi thường để hoạt động này diễn ra minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả.

Ngoài ra, Chính phủ cần tiếp tục hỗ trợ phí bảo hiểm với mức độ phù hợp, kinh phí đào tạo/tập huấn và hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm thúc đẩy thị trường trong giai đoạn hiện nay; nên tiếp tục trợ cấp cho những hộ nghèo, cận nghèo và không nghèo, nhưng với mức trợ cấp phí bảo hiểm thấp hơn. Ngoài hỗ trợ trên, Chính phủ nên cung cấp mức trợ giá ưu đãi cho nông dân có hợp đồng với các doanh nghiệp để tạo ra các khu sản xuất quy mô lớn và cải tiến chuỗi giá trị.

Đồng thời, theo ông Khôi, Chính phủ cũng cần xem xét xây dựng hệ thống tái bảo hiểm thích hợp để thu hút doanh nghiệp bảo hiểm tham gia thị trường, thông qua việc xem xét giảm đầu tư trực tiếp cho nông dân bằng cách giảm tỷ lệ hỗ trợ phí về mức thích hợp nhằm thúc đẩy nhu cầu tự nguyện và nâng cao năng lực quản lý rủi ro ở cấp hộ để giảm rủi ro doanh nghiệp.

Ông Tăng Minh Lộc
Phó Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông nghiệp Việt Nam

Bảo hiểm nông nghiệp có hai đặc điểm: Thứ nhất, muốn làm nông nghiệp cần thay đổi tập quán sản xuất (cũ, lạc hậu) của nông dân (số đông). Đây là việc khó, lâu dài nên cách làm phải từ người nông dân đã và đang có nhu cầu sản xuất hàng hóa, để làm tấm gương thu hút. Thứ hai, sản xuất nông nghiệp chịu nhiều rủi ro, thiên tai như xâm nhập mặn, lở đất… tham gia chương trình là các công ty bảo hiểm nên sẽ gặp nhiều rủi ro bất khả kháng. Vì vậy, nhà nước phải có chính sách hỗ trợ (như tái bảo hiểm).

Nông nghiệp là lĩnh vực ngày càng rủi ro, liên quan đến nhiều sản phẩm, đến nhiều hộ nông dân nên khi đã có quy trình sản xuất, biểu phí nhưng không có giám sát sẽ rất khó thực hiện. Cần giáo dục ý thức của người dân. Cần sự vào cuộc của hệ thống chính quyền, hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền với DN. Bảo hiểm nông nghiệp chưa chất lượng nên nhiều sự cố chưa được khắc phục. DN tham gia cần thường xuyên nghiên cứu để có biện pháp kịp thời, đồng thời các cơ quan nhà nước cần sâu sát lắng nghe thực tiễn, điều khiển kịp thời.

Bà Hoàng Thị Tính
Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC)

Chính phủ và các Bộ ngành cần ban hành khung chính sách để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhằm mục đích huy động nhiều nguồn lực hơn nữa để thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp. Về điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm tham gia bảo hiểm nông nghiệp: không giới hạn số lượng doanh nghiệp tham gia; không tạo ra các rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế doanh nghiệp bảo hiểm tham gia; không giới hạn điều kiện phải có chi nhánh tại các tỉnh dự kiến làm bảo hiểm nông nghiệp vì trên thực tế nhiều doanh nghiệp có cán bộ, đại lý viên đủ năng lực và kiểm soát tốt và tiếp cận tốt bà con nông dân làm còn hiệu quả hơn.

Ngoài việc hỗ trợ cho người mua bảo hiểm nông nghiệp về phí bảo hiểm, cần xây dựng cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp bảo hiểm như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; giảm trích lập quỹ dự phòng cho các doanh nghiệp bảo hiểm khi kết quả kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp bị lỗ.

Cần chỉ đạo các địa phương cung cấp cho các doanh nghiệp bảo hiểm các cơ sở dữ liệu về tổn thất để các nhà tái bảo hiểm quốc tế có đủ cơ sở cung cấp vốn, quy tắc điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm phù hợp; ban hành các quy trình kỹ thuật nuôi trồng phù hợp đặc thù của từng địa phương. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý tại Trung ương và địa phương với doanh nghiệp bảo hiểm và các hộ nông dân/tổ chức nông nghiệp. Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước giám sát quá trình hợp tác, thực hiện chương trình bảo hiểm nông nghiệp của các doanh nghiệp bảo hiểm, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật; tránh việc cạnh tranh không lành mạnh, phi kỹ thuật.

Ông Lê Xuân Luyện
Vụ Quản lý Doanh nghiệp, Bộ NN&PTNT

Vấn đề bảo hiểm nông nghiệp còn đang rất nhỏ bé. Tổng thí điểm thu chỉ hơn 300 tỷ đồng mà chi hơn 700 tỷ đồng nên cần thiết phải có cơ sở hành lang pháp lý để thu hút cả người tham gia và người bán bảo hiểm.

Vì vậy, riêng đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ thì không chỉ người nghèo và hộ người nghèo mà nên nghiên cứu sản phẩm chủ lực.

Để doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh có hiệu quả thì cần có người mua, nếu không có chính sách thì người dân sẽ không mặn mà. Hiện nay chính sách tuyên truyền là đương nhiên, nhưng cũng cần có những điều khoản cụ thể. Ví dụ, nếu người dân, doanh nghiệp tham gia vào bảo hiểm nông nghiệp thì chính là một phần để người dân được vay vốn.

Bên cạnh đó, vấn đề xác định rủi ro trong nông nghiệp là vấn đề rất khó, do đó đã có sự trục lợi bảo hiểm. Để tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm nông nghiệp thì trong hợp đồng công ty bảo hiểm và người bảo hiểm phải có định mức kinh tế kỹ thuật của người mua sản phẩm. Định mức này sẽ do Bộ NN&PTNT sẽ đưa ra từng loại con, loại cây phù hợp.

Quỳnh Chi