09:15:55 | 25/2/2013
Theo nghiên cứu của Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR), điểm đánh giá tính cạnh tranh của các doanh nghiệp (DN) bán lẻ hiện đại trong nước chỉ đạt 47,6%, đứng thứ hai sau các DN bán lẻ hiện đại nước ngoài (48,6%), tiếp sau đó là chợ truyền thống và cửa hàng hộ gia đình. Thực trạng này cho thấy, thị phần trong nước đang bị các nhà phân phối bán lẻ (PP-BL) nước ngoài chiếm lĩnh.
Doanh nghiệp Việt vẫn “mất điểm”
Sau hơn 5 năm gia nhập WTO, ngành bán lẻ Việt Nam vẫn chưa thể tận dụng cơ hội WTO cũng như lợi thế của mình để chiếm lĩnh thị trường khiến kênh phân phối nội địa rơi vào tay các nhà bán lẻ nước ngoài. DN PP-BL có vốn đầu tư nước ngoài ồ ạt mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động tại Việt Nam như: BigC (16 cơ sở), Metro Cash& Carry (17), Parkson (4), Lottle (4)… PP-BL là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, thúc đấy ngành công nghiệp trong nước phát triển, nhưng thực tế trên là một điều đáng lo ngại, có thể gây nguy hiểm cho nền kinh tế.

Theo Tiến sĩ Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch AVR: Ngành công nghiệp PP-BL Việt Nam vẫn còn tồn tại “căn bệnh trầm kha” khó khắc phục. Hai điểm yếu lớn nhất của các DN PP-BL Việt Nam là khả năng tài chính và phương thức quản lý. Các nhà PP-BL nước ngoài có đủ tiềm lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm, sẵn sàng chịu lỗ thời gian đầu để chiếm lĩnh thị trường. Do do năng lực cạnh tranh thấp, chi phí trung gian phân phối cao… nên giá bán của các nhà bán lẻ Việt Nam thường cao hơn giá bán của DN nước ngoài
Một vấn đề khác nữa khiến cho các DN PP-BL trong nước gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường là do cạnh tranh không lành mạnh; cơ sở vật chất, công nghệ và nhân lực của các DN PP-BL hiện đại còn hạn chế. Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh đơn giản; tầm nhìn, nhận thức về cạnh tranh, phát triển và khả năng thích ứng của DN bán lẻ và cửa hàng truyền thống còn thấp. Các DN PP-BL Việt vẫn chưa tận dụng được lợi thế của mình để phát triển mảng cửa hàng tiện lợi (chuỗi cửa hàng có thương hiệu). Ở Việt Nam mới chỉ có khoảng 4000- 5000 của hàng tiện lợi, trong khi ở Thái Lan, số cửa hàng tiện lợi là 7.000 - 8.000, Indonesia 16.000 - 17.000) Nhật Bản 25.000 - 26.000.
PP-BL là ngành đem lại đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng của đất nước (12 -13% GDP/năm) nhưng lại chưa được chú trọng phát triển. Khung chính sách và khung pháp lý của ngành chưa được hoàn thiện. Kết nối quy hoạch PP-BL và quy hoạch khác yếu, chưa có luật riêng cho PP- BL.
Chính sách chung của Nhà nước vẫn chưa coi trọng ngành PP-BL như những ngành khác. Theo Luật Đầu tư (2005), hầu hết các dự án của ngành PP-BL đều không thuộc danh mục các lĩnh vực dự án khuyến khích đầu tư. Các DN PP-BL trong nước gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề thuê đất. Luật Đất đai, Nghị định 69/2009/NĐ-CP: Trừ các dự án PP-BL đầu tư tại khu vực nông thôn được ưu đãi theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP thì các chủ đầu tư phải tự thỏa thuận, chuyển nhượng, đền bù đối với các dự án thu hồi đất.
Hiện nay, hầu hết các ngành đều đã được Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển ngành, riêng ngành PP-BL thì vẫn chưa có chiến lược phát triển tổng thể. Luật quy hoạch đô thị 2009 không chi tiết, rõ ràng quy hoạch hạ tầng cho PP-BL...Về hoạt động nội luật hóa các cam kết quốc tế hiện nay, tại Việt Nam, vẫn chưa thực hiện nghiêm túc danh mục “hàng hóa loại trừ lâu dài” đối với các DN bán lẻ FDI; chưa phân biệt rõ ranh giới giữa bán buôn và bán lẻ khiến cho các DN trong nước càng yếu thế hơn so với các nhà bán lẻ nước ngoài.
Đâu là hướng đi?
Theo dự báo, từ nay đến năm 2014, doanh số bán lẻ tại Việt Nam có thể tăng 23%/năm. Thị trường PP-BL có rất nhiều cơ hội khi mà người tiêu dùng đang có khuynh hướng chuyển sang mua sắm tại các siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Do đó, cần nâng cao khả năng cạnh tranh, duy trì và tăng cường thị phần của các DN PP-BL nội địa, phát triển thị trường PP-BL theo hướng hiện đại hóa. Có biện pháp bảo hộ DN PP-BL Việt Nam phù hợp với cam kết WTO, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, ngăn chặn các hành vi chuyển giá, bán hàng dưới giá thành… Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chính sách, luật pháp về mở cửa thị trường, dịch vụ phân phối, đặc biệt phải xây dựng một chiến lược tổng thể phát triển triển ngành PP-BL.
Khuyến khích đầu tư, xã hội hóa các chợ, trung tâm thương mại phục vụ bán lẻ truyền thống, có cơ chế giao đất và cho thuê đất đối với DN bán lẻ nội địa (theo cơ chế trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả chậm)… tạo điều kiện thuận lợi cho DN phân phối trong nước tiếp cận các mặt bằng kinh doanh có vị trí thuận lợi, quy mô phù hợp với từng loại hình phân phối. Mặt khác, cần có chính sách ưu đãi đối với bán lẻ truyền thống về thuế, đào tạo, cơ sở hạ tầng; tạo điều kiện để DN tiếp cận vốn vay và có cơ chế vay vốn ưu đãi đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại, nhất là vốn để phục vụ công tác bình ổn thị trường, tiêu thụ nông sản cho nông dân…
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, các DN Việt Nam cần tăng cường tính liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối để hỗ trợ nhau xây dựng và bảo vệ thương hiệu, trợ giúp Chính phủ trong việc điều hành vĩ mô về thị trường, giá cả…, phát huy lợi thế cạnh tranh, tập trung phát triển hệ thống phân phối có quy mô nhỏ và vừa, bám theo địa bàn dân cư.
Hương Ly
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)