Bến Tre: Gắn phát triển kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội

16:23:29 | 10/6/2013

Những năm qua, bất chấp biến động của nền kinh tế, tỉnh Bến Tre luôn giữ vững “trận địa” nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - TTCN, dịch vụ và du lịch; nỗ lực không ngừng nâng cao giá trị hàng hóa nhằm tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường, nhất là các mặt hàng xuất khẩu. Trong niềm vui chung, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng khẳng định: “Phát huy những thành quả đạt được, chặng đường tiếp theo tỉnh quyết tâm tận dụng mọi thời cơ, khai thác mọi tiềm năng sẵn có, đưa Bến Tre phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, sớm rút ngắn khoảng cách với các tỉnh phát triển và đạt mức trung bình khá so với vác tỉnh trong khu vực”. Quốc Hưng - Hàn Lương thực hiện.

Ông có thể điểm lại đôi nét về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Bến Tre năm 2012?

Năm 2012, kinh tế thế giới và cả nước gặp nhiều khó khăn. Đối với Bến Tre, sau khi tỉnh tổ chức thành công Festival Dừa lần 3 mang tầm quốc gia thì giá dừa lại giảm mạnh, dịch bệnh trong nuôi thủy sản phát sinh, các doanh nghiệp chế biến nông thủy sản gặp nhiều khó khăn trong hoạt động. Tuy nhiên với sự nỗ lực phấn đấu cao của cả hệ thống chính trị, của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp cùng sự quan tâm hỗ trợ kịp thời của Chính phủ và các bộ, ngành TW, Bến Tre đã cố gắng vươn lên đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 6,61%; cơ cấu cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục được chuyển đổi; mô hình “cánh đồng mẫu”, “vườn dừa mẫu” theo hình thức liên kết trong sản xuất tiếp tục phát huy hiệu quả. Sản lượng nuôi và đánh bắt thủy sản vẫn góp phần cho khu vực nông nghiệp tăng trưởng 2,52% so với năm 2011. Sản xuất công nghiệp có bước phát triển cao, góp phần vào sự tăng trưởng chung của ngành - 11,9%. Thương mại, dịch vụ tăng trưởng 8,48%, nhất là kim ngạch xuất khẩu đã đạt mốc 430,2 triệu USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó khu vực I đạt 49,2%; khu vực II đạt 17,8% và khu vực III đạt 33%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 27 triệu đồng/năm, tăng 8,58% so với năm 2011.

Nhờ huy động tốt các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội (đạt 10.712 tỷ đồng) nên một số công trình, dự án trọng điểm của tỉnh vẫn tiếp tục được triển khai. Các chính sách giãn, giảm, miễn thuế theo tinh thần Nghị quyết 13/NQ – CP của Chính phủ được triển khai thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Công tác xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo và đã tạo sự chuyển động bước đầu khá tốt.

Năm 2013 được dự báo là còn nhiều khó khăn, vậy Bến Tre sẽ có những hỗ trợ nào dành cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong năm nay?

Năm 2013 được dự báo còn nhiều khó khăn, song tỉnh Bến Tre quyết tâm nỗ lực phấn đấu vượt mọi khó khăn và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Một trong các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế là hỗ trợ cho doanh nghiệp, giúp nhà đầu tư vượt qua khó khăn. Cụ thể về lĩnh vực xúc tiến đầu tư, Bến Tre đã thành lập Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, đảm nhận nhiệm vụ xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp. Và dự kiến cuối quý 3/2013, UBND tỉnh sẽ cho phép hình thành chung một trung tâm từ xúc tiến đầu tư đến xúc tiến thương mại và cả xúc tiến du lịch.

Về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư, tỉnh đang tiến hành thực hiện quy trình một cửa liên thông nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nắm bắt được cơ hội đầu tư. Bên cạnh đó, tỉnh cũng luôn xuyên suốt chỉ đạo các sở, ngành rà soát và công khai hóa các thủ tục hành chính nhằm gọn, nhẹ trong các khâu tiếp nhận và xử lý hồ sơ.

Về chính sách ưu đãi đầu tư, tỉnh đang tiếp tục rà soát các chính sách ưu đãi hiện có và tổng hợp, chỉnh sửa, cụ thể hóa và ban hành thành một chính sách chung cho toàn tỉnh trong nhiều lĩnh vực như xã hội hóa, du lịch, các dự án chế biến, … Ngoài ra, tỉnh tập trung chỉ đạo các sở ngành có những giải pháp tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu theo tinh thần Nghị quyết 02 của Chính phủ.

Đảm bảo an sinh xã hội là một trong những vấn đề trọng tâm, luôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện và đã thu được nhiều kết quả phấn khởi. Vậy trong năm 2013, vấn đề này tiếp tục được triển khai, thực hiện như thế nào, thưa ông?

Song song với phát triển kinh tế, công tác đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2012 luôn được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm tập trung chỉ đạo. Trong đó chương trình giáo dục – đào tạo tiếp tục được duy trì cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên được tập trung đầu tư, có 127 trường đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 44,6%, tạo việc làm cho 24.350 lao động. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được tập trung, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm còn 14%. Các chế độ, chính sách đối với người có công, hộ nghèo luôn được chú trọng thực hiện; tỉnh đã xây tặng 1.041 căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách khó khăn về nhà ở, góp phần thiết thực giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 10,56%. Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 78%.

Không dừng lại ở kết quả năm qua, năm 2013, UBND tỉnh quyết tâm phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu về an sinh xã hội. Cụ thể trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, thiết bị giảng dạy và học tập, ưu tiên kinh phí mua sắm thiết bị phục vụ phổ cập cho trẻ mầm non 5 tuổi. Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, hỗ trợ học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn. Tích cực tranh thủ TW sớm phê duyệt chủ trương nâng cấp Trường Cao đẳng Bến Tre lên Trường Đại học Bến Tre. Nâng tỉ lệ huy động trẻ đến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả trẻ em, học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường.

Trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân, phấn đấu giảm tỉ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ; tạo điều kiện để người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Lồng ghép các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hoá gia đình trong các chính sách, các chương trình, dự án phát triển.

Đối với lĩnh vực lao động, việc làm, công tác giảm nghèo và an sinh xã hội, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tư vấn, giới thiệu việc làm đến tận cơ sở và thông qua sàn giao dịch việc làm nhằm tạo điều kiện cho người lao động lựa chọn, tham gia thị trường lao động trong và ngoài nước. Thực hiện mục tiêu dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động; đẩy mạnh thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về thị trường lao động ở nước ngoài cho người dân; gắn công tác đào tạo nghề với xuất khẩu lao động, trang bị kiến thức về pháp luật, văn hóa, ngoại ngữ, tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp cho người lao động để chủ động nguồn cho từng thị trường.

Để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2015 Bến Tre đạt mức trung bình khá so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, tỉnh đã đề ra định hướng thu hút đầu tư trong giai đoạn này như thế nào?

Trong năm 2013, tỉnh Bến Tre sẽ đẩy mạnh thu hút đầu tư các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên có lợi thế cạnh tranh và có khả năng phát triển trên địa bàn tỉnh, góp phần đẩy nhanh phát triển công nghiệp đến năm 2020 sẽ trở thành ngành kinh tế phát triển, tỷ trọng đóng góp ngày càng tăng trong cơ cấu GDP của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp kỹ thuật cao trong giai đoạn 2013-2020.

Các ngành công nghiệp mũi nhọn gồm công nghiệp chế biến thuỷ sản, công nghiệp chế biến các sản phẩm từ dừa. Đối với ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản, tỉnh tập trung ưu tiên kêu gọi đầu tư phát triển các nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên chế biến tôm các loại, cá các loại, nghêu các loại có quy mô trên 10.000 tấn/nhà máy với công nghệ tiên tiến, hiện đại đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường Nhật, Mỹ, EU... Đối với ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm dừa, tập trung ưu tiên kêu gọi đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm từ chỉ xơ dừa; nệm xơ dừa; sản xuất than hoạt tính; sản xuất kẹo dừa các loại; sản xuất sữa dừa, bột sữa dừa, nước cốt dừa... bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản phẩm có chất lượng và giá trị gia tăng cao đủ điều kiện tham gia xuất khẩu vào các thị trường khó tính như EU, Mỹ,...

Các ngành công nghiệp ưu tiên gồm công nghiệp hỗ trợ ngành may; công nghiệp hoá chất; công nghiệp cơ khí; thiết bị điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm; sản xuất thức ăn chăn nuôi; công nghiệp chế biến súc sản; công nghiệp sản xuất các sản phẩm mới (năng lượng gió, năng lượng mặt trời....). Để thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp này, tỉnh tập trung thu hút đầu tư các nhà máy chế biến có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ phù hợp, đảm bảo vệ sinh môi trường, ATVSTP vào các khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch và phân tán gắn với vùng nguyên liệu. Đồng thời, khuyến khích sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, các sản phẩm mới có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, sản phẩm có điều kiện và nhu cầu phát triển, có thị trường tiêu thụ nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển đa dạng, phong phú, góp phần tạo nguồn thu lớn cho ngân sách và giải quyết nhiều việc làm cho xã hội.