Tăng địa vị cho doanh nghiệp xã hội

09:39:53 | 28/10/2013

Sự coi trọng, các chế độ ưu đãi của Nhà nước cũng như khung khuôn khổ pháp lý dành riêng cho loại hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) đến nay vẫn chưa có. Đó là những ý kiến nhận định tại Hội thảo “Doanh nghiệp xã hội – từ thực tiễn đến chính sách” do CIEM và Hội đồng Anh phối hợp tổ chức mới đây tại Hà Nội.

Thầm lặng đóng góp cho cộng đồng

Theo những nghiên cứu của CIEM và Hội đồng Anh, hiện nay Việt Nam chưa có một khung khổ pháp lý dành riêng cho các DNXH do đó các doanh nghiệp xã hội vẫn chưa được công nhận một cách chính thức. Các mô hình DNXH còn khá mới mẻ chưa phổ biến rộng rãi, phần lớn hình thành một cách tự phát hoặc thông qua chuyển đổi, đổi mới phương hướng và cấu trúc hoạt động của các tổ chức phi chính phủ cũ... Do đó hầu hết các doanh nghiệp dạng này chưa thể tự đứng vững về tài chính, thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh mới đáp ứng 50% chi phí cho các hoạt động và mục đích xã hội. Cũng bởi chưa được nhà nước chính thức thừa nhận nên việc các DNXH gặp không ít khó khăn khi quan hệ với các đối tác.

Theo bà Phạm Kiều Oanh, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) hiện tại vẫn chưa có khái niệm đồng nhất về DNXH, khái niệm này còn tùy thuộc vào điều kiện từng địa phương, góc độ đánh giá. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa bao hàm nhất DNXH là những doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tối cao là phát triển xã hội hay bảo vệ môi trường thông qua việc sử dụng phương thức hoạt động như một doanh nghiệp. Tùy theo từng quốc gia, doanh nghiệp xã hội có thể có các hình thức pháp lý khác nhau: tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, hợp tác xã hay các doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp xã hội (có lợi nhuận và không có lợi nhuận) giống với các doanh nghiệp khác vì đều tổ chức và quản lý dưới hình thức doanh nghiệp. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ doanh nghiệp xã hội được thành lập để giải quyết các vấn đề tồn tại của xã hội như đói nghèo, ô nhiễm môi trường, bảo vệ trẻ em…

Mặc dù còn gặp phải không ít rào cản từ thể chế nhà nước cũng như sự đánh giá của cộng đồng song kể từ năm 2009, khi mô hình doanh nghiệp xã hội bắt đầu được giới thiệu vào Việt Nam, các DN này đã có những bước phát triển nhất định. Tính đến thời điểm hiện tại đã có hơn 300 tổ chức đang hoạt động trên địa bàn cả nước.

Cũng theo nghiên cứu của Trung tâm phát triển xã hội tia sáng (Spark Centrer) trên 11 doanh nghiệp xã hội đã chỉ ra các kết quả rất khả quan. Cụ thể như mô hình hợp tác xã sữa Evergrowth. Thông qua các hoạt động thu mua và bán sữa tươi, mỗi ngày Evergrowth thu mua và bán khoảng với 16 tấn sữa với giá chênh lệch là 2.000 đồng/lít. Năm 2012, Evergrowth đạt doanh thu 72 tỷ đồng (lợi nhuận 3 tỷ đồng), trong đó 40% chia cho xã viên, còn lại tái đầu tư, giúp trên 3.000 đối tượng nông dân hưởng lợi, trong đó có 90% là đồng bào người Kh’me. Từ chỗ 60% là các hộ nghèo khi ra nhập, đến nay đã có nhiều hộ thoát nghèo với thu nhập mỗi tháng trên 3 triệu đồng/hộ/1 bò sữa.

Một ví dụ khác là mô hình kinh doanh Trí Đức 115 Yên Bái, từ chỗ chỉ có 12 nhân viên lúc mới thành lập năm 2009, tới nay, Công ty đã vận chuyển được 2.000 bệnh nhân từ nhà hay chuyển viện an toàn (với mức phí rất ưu đãi chỉ 15.000/km bằng với giá taxi thông thường) doanh thu của năm 2012 đạt 1,2 tỷ đồng, lợi nhuận 200 triệu đồng. Qua đó, tạo cơ hội được hưởng lợi cho những người nghèo trong khu vực với mức giá được giảm từ 10-30%. Cũng theo kết quả điều tra của Spark Centrer trong số 11 DNXH được khảo sát trong năm 2012, thì riêng lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra nguồn doanh thu từ 600 đến 319 tỷ đồng, số người được hưởng lợi từ 60-10.000 người. Trong lĩnh vực y tế đạt quy mô doanh thu từ 300 triệu đồng – 15 tỷ đồng, tạo ra từ 600-20.00 người hưởng lợi.

Hướng phát triển bền vững

Theo nghiên cứu của Hội đồng Anh, cái khó của DNXH hiện nay là họ thiếu hẳn một chiến lược và kế hoạch kinh doanh cụ thể, các ý tưởng phục vụ cộng đồng... Ngoài ra, trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng chưa quy định rõ ràng về thành lập, phương thức hoạt động, quyền lợi và trách nhiệm… cho DNXH. Trong khi một DNXH hiểu theo đúng bản chất chính là ở động cơ sáng lập, hướng tới đối tượng khách hàng phục vụ là ai, sản phẩm sản xuất nhằm mục đích gì; có tác động tới các đối tượng có hoàn cảnh như thế nào trong xã hội... Trong khi từ trước đến nay các DNXH thường lại bị đánh đồng với các doanh nghiệp thương mại khác nên họ không có được các điều kiện ưu đãi của nhà nước về về chính sách như thuế DN, thuế xuất khẩu, hỗ trợ vay vốn, cơ sở hạ tầng…

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Q. Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế CIEM, thời gian tới Luật Doanh nghiệp cần sửa đổi bổ sung một số nội dung thừa nhận vai trò pháp lý của mô hình DNXH. Ông Cung cũng đề nghị hai giải pháp tăng tính phát triển bền vững cho loại hình doanh nghiệp này. Một là, DNXH được nhận tài trợ từ các bên liên quan để tạo nguồn vốn đầu tư phát triển. Thứ hai, DNXH sẽ được pháp lý thừa nhận, được hưởng những ưu đãi từ các chính sách như thuế, đất đai... như những loại hình DN khác tại Việt Nam. Theo đó, dự thảo luật này cũng đề xuất tới nghĩa vụ của DNXH phải tuân thủ là duy trì, tôn chỉ mục tiêu thành lập trong suốt quá trình hoạt động; mọi hoạt động kinh doanh đều nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường như đã đăng ký. Ngoài ra, các DNXH không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được ngoài mục đích bù đắp chi phí do hoạt động phục vụ cộng đồng.

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần phải phân biệt rõ ràng khái niệm DNXH với các tổ chức từ thiện. Bởi nếu không có sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng thì các tổ chức từ thiện sẽ lợi dụng doanh nghĩa từ thiện đi kinh doanh bán các sản phẩm dịch vụ thu lợi bất chính.

Anh Phương