09:37:27 | 27/4/2012
Trong khi các DN sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước còn đang loay hoay với việc tiếp cận vốn vay, công nghệ, chiến lược kinh doanh thì các DN nước ngoài đã tận dụng những lợi thế có sẵn để mở rộng nhà máy, mạng lưới kinh doanh nhằm khai thác tiềm năng thị trường. Phóng viên VIB Forum đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Sơn - Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT về vấn đề này. Thanh Yên thực hiện.
Theo Hiệp hội TACN Việt Nam, hiện cả nước có 230 cơ sở và nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi; trong đó có 58 nhà máy của doanh nghiệp liên doanh và đầu tư nước ngoài, sản xuất được gần 7 triệu tấn TACN hỗn hợp, chiếm thị phần khoảng 60%. Còn lại 172 cơ sở và nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm của DN Việt Nam sản xuất 4,5 triệu tấn, bình quân mỗi cơ sở sản xuất 2.184 tấn/tháng và 26.209 tấn/năm.

Có nhiều ý kiến cho rằng, nguy cơ thị trường thức ăn chăn nuôi VN bị DN ngoại thâu tóm chỉ còn là thời gian, Vậy ông nghĩ sao về vấn đề này?
Trước những biến động về thị trường, nguồn vốn vay và đặc biệt do phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài nên khoảng 30% doanh nghiệp sản xuất TACN trong nước đã phá sản trong năm 2011.
Trái ngược với tình hình của các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang lớn mạnh nhanh chóng trên lĩnh vực này. Mới đây, Công ty TNHH Cargill Việt Nam (thuộc Tập đoàn Cargill - Mỹ) đã khánh thành nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thứ 9 tại Việt Nam với công suất 240.000 tấn/năm, đưa tổng công suất sản xuất TACN của công ty lên 1 triệu tấn/năm. Công ty này dự định đến năm 2015 sẽ nâng tổng công suất sản xuất lên 1,5 triệu tấn.
Vì thế, tôi lo ngại rằng, hiện các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm thị phần gần 30% trong lĩnh vực sản xuất TACN nhưng thị phần này đang có nguy cơ bị thu hẹp khi các doanh nghiệp nước ngoài liên tục “lấn sân”.
Vậy đâu là nguyên nhân, thưa ông?
Chúng ta đều biết, thức ăn chăn nuôi giữ vai trò quyết định đến số lượng, năng suất, chất lượng vật nuôi. Trong khi đó, sản xuất TACN trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu. Hàng năm Việt Nam phải nhập một lượng lớn nguyên liệu sản xuất TACN với mức độ năm sau cao hơn năm trước.
Nếu như năm 2009, để sản xuất được 11,3 triệu tấn TACN, Việt Nam phải nhập tới 53,6% nguyên liệu thì đến năm 2010, tỷ lệ này đã tăng lên 59,8% và năm 2011 là 60,5%. Trong đó, nguồn nguyên liệu giàu đạm, giàu năng lượng, thức ăn bổ sung và phụ gia nhập khẩu tới 80 - 90%.
Trong khi đó, theo dự báo chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam, đến năm 2015, ngành này cần tới 18-20 triệu tấn thức ăn công nghiệp và năm 2020 là 25- 26 triệu tấn. Như vậy, đây có thể coi là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp trong ngành phát triển.
Tuy nhiên cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội và ngoại không cân sức. Trong lúc các doanh nghiệp Việt Nam phải vay vốn với lãi suất 18-24%/năm, thiếu sự hỗ trợ... thì doanh nghiệp nước ngoài được Chính phủ của họ khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nên có thể tiếp cận các khoản vay với lãi suất rất thấp, khoảng 1-4%/năm.
Mặt khác, chính sách đầu tư của Việt Nam cũng vô tình tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài khi không phải nộp thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất nếu các công ty ký hợp đồng gia công với các trang trại chăn nuôi.
Thực tế chúng ta không thể phủ nhận vai trò của các DN ngoại trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở VN, thưa ông ?
Đúng là không thể phủ nhận những đóng góp của các DN nước ngoài trong lĩnh vực TACN. Sự tham gia của các DN nước ngoài đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp Việt Nam. Từ mô hình sản xuất TACN truyền thống nhỏ lẻ và song song với nó là ngành chăn nuôi nhỏ lẻ, lạc hậu; với sự góp mặt của các tập đoàn sản xuất thức ăn gia súc có tiếng trên thế giới như Cargill, CP, Proconco… Việt Nam đã phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp.
Thực tế thì các nhà sản xuất TACN trong nước cũng có cơ hội phát triển mạnh lên. Tuy vậy, trong ngành kinh doanh được coi là siêu lợi nhuận này đã có khá nhiều DN trong nước phá sản. Theo thống kê của Hiệp hội TACN Việt Nam, trong vòng 5 năm trở lại đây, số lượng DN chế biến TACN “nội” đã giảm một nửa. Riêng quý I/2011, đã có gần 30% các DN chế biến thức ăn cho tôm, cá phải đóng cửa. Một số DN trong nước phá sản đã được các DN nước ngoài mua lại.
Đơn cử, sau sự kiện Công ty C.P Pokphand (CPP, có trụ sở tại Hongkong (Trung Quốc)) mua lại Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP VN, thì tiếp tục có thông tin 2 nhà đầu tư của Nhật Bản là Tập đoàn Sojitz và Cty Kyodo Shiryo (hãng sản xuất thức ăn gia súc hàng đầu của Nhật) sẽ đầu tư 2 tỷ Yên xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở VN, với mục tiêu chiếm 10% thị phần thị trường thức ăn gia súc Việt Nam vào năm 2020.
Vậy, đâu là yếu tố hấp dẫn DN ngoại?
Điều hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài trước hết là tiềm năng về thị trường. Nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở VN ước tính mỗi năm cần khoảng từ 25-30 triệu tấn. Thực tế các nhà sản xuất mới chỉ đáp ứng được khoảng 11-12 triệu tấn. Thứ hai, về tín dụng, trong khi DN nước ngoài có lợi thế được vay bằng ngoại tệ, vay vốn không phải thế chấp, được Cty mẹ ở nước ngoài hỗ trợ về việc mua nguyên liệu giá thấp và được trả chậm… thì DN trong nước vẫn phải vay vốn với lãi suất cao.
Thứ ba, theo các chuyên gia trong ngành, nhiều Công ty nước ngoài đang trốn thuế một cách hợp pháp bằng cách ký hợp đồng gia công với các trang trại chăn nuôi. Vì vậy, các DN này không phải nộp thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất. Thực tế này khiến các lợi thế nằm trọn trong tay các DN nước ngoài.
Với lợi thế về vốn liếng, công nghệ, năng lực quản lý vượt trội, nhiều DN nước ngoài còn chủ động được nguồn giống đang tạo nên vòng tròn khép kín trong chăn nuôi.
Nhiều ý kiến cho rằng, một ngành kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nước ngoài và DN nước ngoài thì khó có thể nói đến sự tự chủ hay phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị sản xuất một cách công bằng. Nhận định của ông về vấn đề này ?
Nhìn vào ngắn hạn thì người chăn nuôi có lợi vì yên tâm đầu tư sản xuất khi chủ động được con giống, thức ăn, thậm chí cả đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên về dài hạn, vẫn với phương thức này, các DN sẽ dần dần khống chế thị trường, thao túng giá cả. Nhiều năm nay, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng. Năm 2011, mặt bằng giá đã tăng từ 30 - 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Sự tăng giá của TACN và con giống “nuốt” dần lợi nhuận của người chăn nuôi, biến họ từ ông chủ trở thành lệ thuộc, buộc phải làm theo kiểu gia công giá rẻ cho các DN.
Một đất nước nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn, vậy mà thị trường chăn nuôi chưa được điều tiết tốt, để các DN nước ngoài chi phối là điều không bình thường. Một nghịch lý là trong nước chưa chủ động được nguyên liệu chế biến TACN, mà phải nhập khẩu tới 70%; trong đó: ngô là loại nông sản dễ trồng thì VN cũng phải nhập đến 50%, đậu tương, khô dầu đậu tương, lúa mì nhập 90 - 95%; còn các chất khoáng, vitamin, tạo mùi... nhập khẩu 100%.
Thiết nghĩ, trách nhiệm lập lại sự cân bằng trong ngành chăn nuôi, ngoài sự cố gắng của các DN trong nước, rõ ràng còn thuộc về những người làm chính sách. Nếu không có những hành động kịp thời thì 30% thị phần còn lại của ngành chăn nuôi e rằng các nhà sản xuất trong nước khó mà giữ lại được.
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)