08:56:49 | 29/4/2026
Trong lộ trình đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, và tiến tới là nước công nghiệp phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng được kỳ vọng sẽ đóng vai trò như những "chiến sĩ" tiên phong trên mặt trận sản xuất và kinh doanh. Ông Nguyễn Hoàng - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (Hansiba), Chủ tịch Tập đoàn N&G Group Việt Nam đã có những chia sẻ với phóng viên nghiệp xung quanh vấn đề này.
![]() |
Ông đánh giá như thế nào về sự phát triển cũng như năng lực nội sinh của doanh nghiệp CNHT Việt Nam trong thời gian qua?
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tập trung mọi nguồn lực để phát triển nhanh - mạnh ngành công nghiệp nói chung và CNHT Việt Nam nói riêng, trong đó có nhiều các văn bản quan trọng thúc đẩy phát triển ngành CNHT như: Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về phát triển ngành CNHT; Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 về việc phê duyệt chương trình phát triển CNHT từ năm 2016 đến 2025; Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 06/08/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành CNHT… Các cơ sở pháp lý tại các văn bản trên là điều kiện rất quan trọng để các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp – hộ kinh doanh thực hiện, triển khai.
Đặc biệt, Việt Nam có nền chính trị ổn định, và đã tham gia vào rất nhiều các Hiệp định thương mại lớn, thế hệ mới, trở thành Đối tác chiến lược toàn diện với nhiều cường quốc trên thế giới. Cùng với đó, thị trường, thị phần trong lĩnh vực chế tạo, chế biến linh phụ kiện ngành CNHT còn rất lớn; nguồn nhân lực có tay nghề, mặt bằng cao thế giới và tỷ lệ lao động cao của dân số trên 100 triệu người Việt Nam.
Hiện doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có khoảng gần 2.000 doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh tham gia sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và con số này sẽ tăng thêm nhiều hơn nữa trong thời gian tới.
Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, dù kết quả đạt được chưa hoàn toàn tương xứng với tiềm năng của Đất nước và tâm huyết của doanh nghiệp, nhưng rất tốt là năng lực nội sinh của chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc. Đã đến lúc gạt bỏ định kiến rằng Việt Nam chưa sản xuất nổi một con ốc vít, bởi thực tế các doanh nghiệp nội địa hiện nay đã tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó đáp ứng được là nhà sản xuất vệ tinh cho các Tập đoàn lớn trong nước và quốc tế (như Toyota, Honda, SamSung, Canon, Vin Fast, Thaco…). Từ các lĩnh vực truyền thống như nông nghiệp, y tế, logistics cho đến những ngành công nghệ cao như linh kiện hàng không vũ trụ, sản phẩm điện tử, máy chủ và đặc biệt là lĩnh vực mũi nhọn chip bán dẫn, doanh nghiệp Việt Nam đang dần khẳng định vị thế và tầm vóc mới của mình khi tham gia đầu tư vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

Tuy có nhiều tiềm năng phát triển nhưng vì sao nhiều doanh nghiệp CNHT vẫn gặp hạn chế trong việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, thưa ông?
Cơ hội lần thứ nhất để phát triển CNHT của Việt Nam đã trôi qua kể từ khi Việt Nam có chính sách đổi mới mở cửa thu hút các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là từ khi các doanh nghiệp tập đoàn lớn của nước ngoài đã vào Việt Nam đầu tư như: Toyota, Honda, Ford, Intel, Panasonic... Khi đó Việt Nam chưa hoàn thiện đầy đủ chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất các linh kiện phụ trợ cho các tập đoàn, doanh nghiệp FDI, mặt khác cũng chưa có đủ các cơ chế để khuyến khích và thậm chí phải có định chế để ràng buộc các doanh nghiệp, tập đoàn này phải nội địa hóa các sản phẩm linh phụ kiện cho sản phẩm của họ được sản xuất tại Việt Nam.
Về phía các doanh nghiệp FDI, do nhiều yếu tố và vì lợi nhuận, cũng như do các tập đoàn này đã tham gia sâu rộng, bền chặt vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là doanh nghiệp tại chính quốc gia của họ, nên việc hỗ trợ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sản xuất cung ứng linh phụ kiện cho doanh nghiệp FDI rất hạn chế. Điển hình là Samsung đã công bố nhu cầu hàng trăm sản phẩm, Toyota và các Tập đoàn khác quốc tế và trong nước công bố hàng trăm linh phụ kiện cần nhưng các doanh nghiệp CNHT Việt Nam chưa thể đáp ứng được.
Thực tế cho thấy, định hướng và tầm nhìn trong các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước là đúng đắn nhưng việc ban hành cơ chế chính sách để các chủ trương đi được vào đời sống doanh nghiệp lại chưa kịp thời và phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành CNHT. Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành – địa phương – DN còn mang tính nhỏ lẻ cục bộ. Cùng với đó, việc toàn cầu hóa vừa là cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Theo ông, cần làm gì để tăng cường kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp Việt Nam và khu vực doanh nghiệp FDI nhằm thúc đẩy ngành CNHT phát triển?
Để hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp, Chính phủ và các cơ quan liên quan cần đẩy mạnh việc cụ thể hóa các chính sách vĩ mô thông qua việc hiệu chỉnh hệ thống pháp luật, các nghị định và thông tư sao cho sát với thực tiễn. Sự chuyển động này không chỉ dừng lại ở cấp Trung ương mà cần sự quyết liệt từ chính quyền cấp cơ sở như xã, tỉnh và thành phố để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp cả trong những lúc thuận lợi lẫn khó khăn.
Đặc biệt, một yếu tố không thể tách rời trong chiến lược phát triển là việc nâng cao hiệu quả hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Chúng ta cần những cơ chế không chỉ dừng lại ở việc thu hút vốn và tạo ra công ăn việc làm mà còn phải có chế tài và khuyến khích doanh nghiệp FDI thực sự đồng hành, dẫn dắt doanh nghiệp nội địa cùng tham gia vào chuỗi sản xuất. Việc xây dựng một mối quan hệ tương hỗ, đẩy mạnh liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ là chìa khóa để Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà trở thành một mắt xích quan trọng, bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai.
Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật, là yếu tố sống còn để hiện đại hóa ngành công nghiệp hỗ trợ. Các doanh nghiệp cần chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo và cơ quan nhà nước để xây dựng lộ trình nâng cao tay nghề, đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của các ngành công nghệ cao như chíp bán dẫn hay hàng không vũ trụ. Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách vĩ mô đúng đắn, môi trường đầu tư thông thoáng và nỗ lực nâng tầm năng lực nội tại sẽ là bệ phóng vững chắc đưa Việt Nam tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hợp tác giữa DN Việt với các doanh nghiệp FDI, Việt Nam cần có những giải pháp thực chất nào để phát triển ngành CNHT?
Để phát triển ngành CNHT đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao hiện đại, giá trị gia tăng cao của Việt Nam theo định hướng của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đề ra, Chính phủ cần sớm xây dựng Luật CNHT và trình Quốc hội sớm ban hành trong thời gian nhanh nhất của nhiệm kỳ này; cần thành lập Ban chỉ đạo cấp Nhà nước do Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban hoặc tổ tư vấn giúp việc Thủ tướng về phát triển CNHT, với sự tham gia của một số Bộ/ban/ngành, một số Tỉnh/Thành phố, đại diện doanh nghiệp CNHT, Hiệp hội CNHT để thống nhất chỉ đạo thúc đẩy giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp CNHT.
Bên cạnh đó, cần xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để phát triển các doanh nghiệp thuộc ngành CNHT, quyết tâm nhiệm kỳ này (2026 – 2030) đạt tỷ trọng 5%-10% trên tổng số doanh nghiệp Việt Nam.
Đồng thời, cần xây dựng gói giải pháp cấp thiết, đặc thù về vốn (lãi suất và thời gian vay, hạn mức vay, tài sản thế chấp...) vì theo các quy định về điều kiện vay vốn (tài sản đảm bảo tiền vay, vốn đối ứng của chủ đầu tư, lãi suất vay, thời gian vay...) vẫn còn trở ngại đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT; Hỗ trợ đào tạo lao động chất lượng cao, có chính sách riêng ưu đãi phù hợp cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (đặc biệt là các thủ tục hành chính về đầu tư và quản lý hoạt động sau đầu tư khi vận hành sản xuất). Ngoài ra, cần quy hoạch cụ thể từng vùng kinh tế (Bắc – Trung – Nam) và đưa vào kế hoạch – chương trình cụ thể để phát triển các ngành CNHT, tránh tình trạng “nhà nhà” phát triển CNHT để hạn chế tối đa lãng phí nguồn lực của đất nước và cạnh tranh không cần thiết.
Trân trọng cảm ơn ông!
LA (Vietnam Business Forum)
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)