Tiết kiệm năng lượng: Giải pháp cho nền kinh tế xanh, hiệu quả

09:58:33 | 2/8/2013

Mới đây, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo về Xây dựng mức chuẩn hiệu quả năng lượng trong ngành Công nghiệp hóa chất Việt Nam do Tổng cục Năng lượng – Bộ Công thương chủ trì. Hội thảo là dịp để các nhà quản lý, nhà khoa học tìm ra giải pháp một nền sản xuất “xanh” và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Bên lề hội thảo, phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Cao Quốc Hưng – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục năng lượng – Bộ Công thương xung quanh chủ đề trên. Anh Phương thực hiện.

Xin ông cho biết rõ hơn về mức chuẩn hiệu quả năng lượng trong các ngành công nghiệp?

Đây là chương trình xây dựng mức chuẩn nhằm thiết lập chuẩn hiệu suất năng lượng cho sản xuất một số sản phẩm hóa chất, và một số ngành công nghiệp khác, cũng như xây dựng kế hoạch hành động hiệu quả năng lượng cho ngành sản phẩm đó và hỗ trợ Bộ Công Thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật hiệu suất năng lượng cho công nghiệp hóa chất. Những phân ngành được lựa chọn để xây dựng mức chuẩn là: Phân bón (chỉ tập trung sản phẩm NPK), Cao su nguyên liệu (thiên nhiên) và sơn... Cụ thể, nếu xây dựng được mức chuẩn này áp dụng vào thực tế thì có thể tiết kiệm tới khoảng 3% - 10% tổng năng lượng sử dụng và thời gian thu hồi vốn là dưới 1 năm; với các giải pháp tiết kiệm năng lượng chi phí trung bình như lắp đặt biến tần, điều khiển…thì thời gian thu hồi vốn dưới 2 năm và tiết kiệm năng lượng được khoảng 10% - 15%; và đối với các giải pháp tiết kiệm năng lượng ở mức chi phí cao thì thời gian thu hồi vốn thấp hơn 4 năm và tiết kiệm được đến 40% năng lượng tiêu thụ.

Hiện Dự án tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn tại Việt Nam (CPEE) đã thực hiện khảo sát và kiểm toán năng lượng tiêu biểu cho một số nhà máy thuộc ngành hóa chất; Khảo sát và xây dựng đường chuẩn hiệu quả năng lượng cho 3 phân ngành (40 nhà máy chế biến cao su, hơn 20 nhà máy sản xuất phân bón và 28 nhà máy sản xuất sơn), đồng thời lựa chọn thực hiện kiểm toán năng lượng sơ bộ cho 20 nhà máy thuộc 3 phân ngành kể trên.

Về các giải pháp chi tiết các doanh nghiệp có thể thể tiếp cận với nhiều lựa chọn, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó, các giải pháp TKNL chi phí thấp, có thời gian thu hồi vốn dưới 1 năm như quản lý nội vi tốt (sửa chữa rò rỉ hệ thống khí nén, bộ định thời và điều khiển đơn giản, cải thiện việc bảo trì tốt hơn) có thể giúp DN tiết kiệm khoảng 3 – 10% tổng sử dụng năng lượng. Các giải pháp TKNL chi phí trung bình, có thời gian thu hồi vốn dưới 2 năm bao gồm lắp biến tần, thiết bị thu hồi nhiệt, xây dựng hệ thống quản lý năng lượng… có khả năng giúp DN tiết kiệm khoảng 10 – 15% tổng sử dụng năng lượng. Các giải pháp TKNL chi phí cao, có thời gian thu hồi vốn thấp hơn 4 năm như lắp đặt hệ thống kết hợp điện – nhiệt (CPH), điều khiển cao cấp, kết hợp sử dụng năng lượng tái tạo… có thể giúp DN tiết kiệm đến 40% năng lượng tiêu thụ.

Ngoài các ngành công nghiệp hóa chất, thép cũng là ngành ngốn khá nhiều nhiên liệu trong quá trình sản xuất, ông có thể cho biết về các giải pháp tiết kiệm năng lượng của ngành?

Trong các ngành sản xuất công nghiệp, thép được coi là một trong những ngành công nghiệp sử dụng năng lượng, nhiên liệu ở quy mô lớn. Công nghệ luyện phôi thép hiện nay chủ yếu là lò điện, công suất thấp, lạc hậu nên hiệu suất tiêu hao năng lượng rất cao. Lượng than, dầu, điện mà ngành tiêu thụ chiếm khoảng 6% tổng tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, do công nghệ lạc hậu nên thời gian luyện một mẻ thép của các DN Việt Nam cũng cao gần gấp đôi so với trung bình trên thế giới. Cụ thể, năm 2010, để luyện được 1 mẻ thép, DN Việt Nam trung bình mất khoảng 90-180 phút (trung bình thế giới là 45-70 phút), tiêu hao điện từ 550-690 kWh/tấn (trung bình thế giới là 360-430 kWh/tấn). Với lượng tiêu thụ lớn như vậy, tiềm năng tiết kiệm năng lượng ngành thép có thể lên đến 30 - 40%. Mặt khác, xu hướng hiện tại đang có sự đội giá năng lượng, nên giải pháp tiết kiệm năng lượng, tiết giảm chi phí sản xuất được đặt ra “sống còn” với không riêng gì các ngành sản xuất công nghiệp trong đó có ngành thép. Vì vậy, ngành thép cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để giảm tiêu hao điện năng. Theo đó, được biết hiện Tổng công ty Thép Việt Nam đã đầu tư chiều sâu, cải tạo các thiết bị sẵn có, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và tổ chức sắp xếp lại sản xuất để giảm tiêu hao năng lượng và tăng tính hiệu quả trong sản xuất thép. Các giải pháp cụ thể bao gồm: Tăng công suất máy biến thế lò để rút ngắn thời gian nấu chảy, sử dụng nước làm mát tường lò và đỉnh lò để tăng tuổi thọ của lò; Đầu tư thiết bị gia công phế thép để làm sạch sắt thép vụn, rút ngắn thời gian nạp liệu, giảm số lần ngừng lò và mở nắp lò, giảm tổn thất điện năng; Sử dụng gang lỏng trong phối liệu; Loại bỏ tất cả các lò điện có dung lượng nhỏ hơn 10 tấn, tổ chức sản xuất 2 ca, 10h/ca vào các giờ thấp điểm và bình thường, dành giờ cao điểm để kiểm tra bảo dưỡng thiết bị và chuẩn bị nguyên liệu… Những giải pháp này đã giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu vào khoảng gần 20%. Chính nhờ các giải pháp sáng tạo, bắt nguồn từ việc hưởng ứng phong trào tiết kiệm năng lượng do Bộ Công thương đề ra mà ngành thép mang lại nhiều hiệu quả kinh tế lớn, là “chìa khóa” giúp DN thép vượt bão thành công và phát triển bền vững.

Tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp có mang lại nhiều lợi ích không, thưa ông?

Theo nhiều nghiên cứu mới đây được công bố thì mức tiêu thụ năng lượng trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam chiếm từ 22,4 - 30% tổng mức tiêu thụ năng lượng quốc gia. Do đó, tiềm năng tiết kiệm của ngành xây dựng cũng rất lớn. Cụ thể đối với các công trình mới, có thể tiết kiệm tới 30 - 40% năng lượng nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp thiết kế kiến trúc, sử dụng các vật liệu tiết kiệm năng lượng, lắp đặt và vận hành các trang thiết bị có hiệu suất năng lượng cao, cán bộ quản lý năng lượng đủ trình độ… Đối với các công trình đang hoạt động, cũng có thể tiết kiệm tới 15 - 25% năng lượng nếu tiến hành kiểm toán năng lượng và triển khai áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Bên cạnh đó, việc thiết kế các công trình xây dựng mới thành các công trình xanh, đặc biệt là cao ốc xanh, sẽ là một động thái rất thiết thực của con người trong ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, về các giải pháp chiến lược chúng ta cũng cần tính đến dự án xây dựng một chiến lược phát triển công trình xanh – công trình sử dựng năng lượng và hiệu quả./.