Khơi dậy tinh thần dân tộc

15:01:38 | 21/1/2014

Nền kinh tế đã bộc lộ những triệu chứng của căn bệnh “trầm cảm”: lạm phát giảm xuống còn dưới 7%/năm, lãi suất đã giảm mạnh từ 21%/năm xuống còn 11%/năm nhưng tín dụng chỉ tăng khoảng 9%/năm, nếu trừ đi yếu tố lạm phát thì mức tăng tín dụng còn thấp hơn nữa. Nền kinh tế đói vốn nhưng không tiêu thụ được vốn. Vòng quay của vốn trước kia đã đạt 2,5 vòng/năm nay chỉ còn 1 vòng/năm, bộc lộ tình trạng trì trệ trong nền kinh tế.

Hội nhập luôn là cơ hội

Mặc dầu sẽ tiếp tục có biến động về tài chính-tiền tệ (như giảm luồng tiền QE của FED ở Mỹ từ 85 tỷ USD/tháng xuống còn 75 tỷ/tháng), dự báo của các thể chế tài chính thế giới đều thống nhất về khả năng tiếp tục hồi phục chậm của nền kinh tế thế giới, trong đó Đông Á vẫn tiếp tục là đầu tàu, kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng trên 7% . Kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục đà hồi phục và kinh tế của Liên minh châu Âu cũng từng bước giải quyết được khủng hoảng nợ công. Nếu như Thỏa thuận Bali ngày 7/12/2013 của WTO được các nước phê chuẩn và thực hiện xuất khẩu của các nước đang phát triển sẽ thuận lợi hơn, dự kiến GDP toàn cầu có thể tăng thêm 1.000 tỷ USD và tạo thêm 21 triệu việc làm trên toàn thế giới, thì đầu tư nước ngoài và đầu tư tài chính sẽ cao hơn, cuộc cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn sẽ càng gay gắt.

Sáng tạo khoa học-công nghệ sẽ là nhân tố chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia và của doanh nghiệp, nền kinh tế nào có tiềm lực khoa học mạnh, chủ động đổi mới, nền kinh tế đó sẽ tiếp tục tăng trưởng.

Từ bây giờ đến cuối năm 2015 là giai đoạn nước rút cho việc thiết lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) với một thị trường hàng hóa chung, thị trường dịch vụ mở cửa, các luồng vốn tài chính được dịch chuyển tự do trong khối và lao động có tay nghề được vận động giữa các thành viên.

Viễn cảnh thành lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng đã kích thích mạnh mẽ luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thể hiện qua số vốn đăng ký đạt 20,2 tỷ USD trong năm 2013.

Tất cả những bước hội nhập quan trọng đó sẽ mở ra những cơ hội và thách thức to lớn chưa từng thấy đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt.

Qua đáy khủng hoảng, kinh tế vẫn nhiều ẩn số?

Nền kinh tế Việt Nam năm 2013 được coi là đã vượt qua “đáy” của năm 2012, tăng trưởng GDP cao hơn (5,4-5,5%), lạm phát thấp hơn, lãi suất giảm, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ đạt mức cao nhất từ trước đến nay (3,2 tháng nhập khẩu), xuất khẩu tăng cao (15,6%), đạt 132,2 tỷ USD, đây là mức tăng trưởng xuất khẩu cao trong các nước ASEAN. Trên cơ sở đó, Chính phủ dự kiến sẽ tiếp tục duy trì chính sách ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô kèm theo những nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế.

Nghịch lý lớn của năm 2013 là mặc dầu đạt được những thành tựu đáng ghi nhận như vậy nhưng doanh nghiệp trong nước tiếp tục gặp khó khăn gay gắt, ngay cả nông dân cũng gặp nhiều thất bát trong tiêu thụ sản phẩm, đã xuất hiện hiện tượng nông dân trong 22/63 tỉnh, thành phố bỏ ruộng vì thu nhập không tương xứng công sức bỏ ra. Kinh tế năm 2013 tăng trưởng chủ yếu nhờ xuất khẩu và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trong khi số doanh nghiệp tư nhân tuyên bố phá sản hoặc ngừng hoạt động vẫn tiếp tục tăng với mức 8,4% so với 2012, 65% doanh nghiệp báo cáo không có lãi, trong đó có không ít doanh nghiệp hạng trung đã gắng gỏi trụ lại trong những năm vừa qua. Khu vực kinh tế dân doanh năng động, tạo ra nhiều việc làm nhất - một thành tực quan trong của quá trình Đổi Mới - đã bị tổn thất nặng nề và chưa biết bao giờ mới phục hồi được. Trong năm 2013, Chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp, chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như miễn, giảm hay hoãn nộp thuế, lập Quỹ bảo lãnh tín dụng v.v... nhưng qua phản ánh của các doanh nghiệp, số doanh nghiệp tiếp cận được những trợ giúp này không cao và phải vượt qua nhiều trở ngại, chi phí về thời gian và tiền bạc.

Đặc biệt là lao động trong lĩnh vực ngân hàng và bất động sản bị giảm lương và mất việc khá mạnh, làm cho viễn cảnh kiếm được việc làm trên hai lĩnh vực “vang bóng một thời” trở nên rất mù mịt trong năm 2014.

Trong khi đó thì một số doanh nghiệp đã tiếp tục phát triển vững vàng như Vinamilk, Viettel, Gốm Sứ Minh Long hay Rạng Đông. Những doanh nghiệp này đã tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi, vận dụng công nghệ hiện đại, đưa ra thị trường những sản phẩm mới, chất lượng cao. Các doanh nghiệp cần học tập kinh nghiệm của những doanh nghiệp thành công này.

Hơn thế nữa nền kinh tế đã bộc lộ những triệu chứng của căn bệnh “trầm cảm”: lạm phát giảm xuống còn dưới 7%/năm, lãi suất đã giảm mạnh từ 21%/năm xuống còn 11%/năm nhưng tín dụng chỉ tăng khoảng 9%/năm, nếu trừ đi yếu tố lạm phát thì mức tăng tín dụng còn thấp hơn nữa. Đặc biệt đáng lo ngại là tín dụng của Hà Nội chỉ tăng 4,56%, nếu trừ đi chỉ số lạm phát thì đã tăng trưởng âm. Tức là nền kinh tế đói vốn nhưng không tiêu thụ được vốn. Vòng quay của vốn trước kia đã đạt 2,5 vòng/năm nay chỉ còn 1 vòng/năm, bộc lộ tình trạng trì trệ trong nền kinh tế.

Hơn thế nữa, lạm phát đã xuống mức thấp nhưng tiêu dùng dân cư không tăng:

Chi tiêu hộ gia đình của Việt Nam chỉ tăng 5,1% trong thời kỳ 2009-2012 so với mức 8,9% của giai đoạn 2004-2008, nếu trừ đi mức lạm phát thì chi tiêu thực tế không tăng, thậm chí đã giảm trong một bộ phận dân cư. Sức mua của người dân đã xuống mức rất thấp, thể hiện rõ rệt qua sự ế ẩm của nhiều loại hàng hóa, và tồn kho hàng công nghiệp vẫn cao hơn năm 2012 khoảng 9,4%.

Thị trường vào dịp lễ Giáng sinh, Tết Dương lịch cũng trầm lắng khác thường, cho thấy sức mua của người dân đã giảm sút nghiêm trọng. Niềm tin của người dân vào triển vọng ổn định và tăng trưởng mạnh của nền kinh tế vẫn chưa được khôi phục.

Một nghịch lý khác là trong khi tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn, nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô có tiến bộ thì ngân sách lại gặp khó khăn chưa từng thấy trong 30 năm gần đây: thu ngân sách giảm sút mạnh và không đạt kế hoạch đề ra. Trong đó đáng chú ý là thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 20%, nhiều tổng công ty, tập đoàn báo lỗ. Trong khi xuất khẩu tăng cao thì thu thuế từ xuất khẩu rất khiêm tốn, lý do là 65% xuất khẩu do doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đóng góp và các doanh nghiệp đó đã có nhiều ưu đãi, miễn, giảm nhiều sắc thuế. Khó khăn về ngân sách đã “bó tay” Nhà nước, dẫu rất muốn cũng chưa thể tăng đầu tư công để tăng trưởng kinh tế cao hơn và càng không thể nghĩ đến một gói kích thích tăng trưởng lớn từ ngân sách Nhà nước vào lúc này.

Nợ công tăng nhanh đáng lo ngại, nếu cộng thêm số nợ của doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp sẽ phải chịu trách nhiệm (như Vinashin và Vinalines), thì đã vượt quá mức an toàn.

“Cục máu đông” nợ xấu tiếp tục ngăn cản tín dụng, tăng trưởng và vẫn là một bí ẩn đáng quan ngại. Số nợ xấu thực là bao nhiêu nếu như chúng ta xem chất lượng tài sản thế chấp của 7 ngân hàng đã cho doanh nghiệp Trường Ngân vay với tài sản thế chấp là kho cà phê rởm! Có bao nhiêu tài sản thế chấp thuộc loại “kho cà phê rởm Trường Ngân” này trong số tài sản thế chấp của hệ thống ngân hàng? Và Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) sẽ làm gì với số tài sản loại này? Chất lượng của giám định tài sản thế chấp, chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng như thế nào qua ví dụ này?

Tương tự như vậy, số tín dụng bị “chôn” trong bất động sản là bao nhiêu? Có người đã đưa ra con số 1 triệu tỷ, trong khi tổng số vốn mà các địa phương báo cáo về còn vượt xa cả số đó thì viễn cảnh giải quyết được kho bất động sản này không phải một sớm, một chiều.

Nền kinh tế Việt Nam rõ ràng đang tăng trưởng dưới tiềm năng. Tái cấu trúc, cải cách mạnh mẽ thể chế, chính sách sẽ phát huy được tinh thần kinh doanh của khối doanh nghiệp dân tộc năng động. Đó là hy vọng của cộng đồng doanh nghiệp trong năm 2014.

Lê Đăng Doanh