15:17:46 | 21/1/2014
Bức tranh kinh tế 2014 sẽ ra sao, liệu Việt Nam có giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn, các định chế tài chính - ngân hàng mới được thành lập có giúp sức khỏe nền kinh tế được cải thiện và câu chuyện lương, thưởng có còn gây bức xúc trong dư luận như trong năm 2013? TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã có những chia sẻ với phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum về vấn đề này. Anh Phương thực hiện.
Kết thúc năm 2013, nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 5,5%-5,6%. Theo ông, trong năm 2014 liệu Việt Nam có giữ được mức tăng trưởng này hay phải điều chỉnh?
Trong năm 2014, Việt Nam đang xây dựng kịch bản cho chỉ số GDP ở mức 5,6% - 5,8%. Và chúng ta hoàn toàn tự tin về mức độ tăng trưởng này. Tất nhiên, mức tăng này cần đặt trong bối cảnh nền kinh tế thế giới năm 2014 không có quá nhiều biến động đi xuống. Ở trong nước, các chỉ số tăng trưởng kinh tế đầu vào vẫn giữ ở mức ổn định không có xáo trộn như trong năm 2013 thì tôi tin tưởng hoàn toàn có thể hoàn thành mục tiêu với mức tăng trưởng như trên.
Ông đánh giá ra sao về câu chuyện cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành?
Thực tế, đã có ý kiến cho rằng, Nhà nước chỉ nên cổ phần hóa các doanh nghiệp làm ăn tốt, có sức mạnh, còn lại các doanh nghiệp yếu thì nên từ từ chờ nền kinh tế hồi phục, nếu cổ phần quá sớm thì sẽ gây ra sự thất thoát nguồn lực lớn của đất nước. Về vấn đề này quan điểm của tôi cho rằng, đây chỉ là một ý kiến, điều quan trọng là ở chỗ ai là người bán, ai có chủ trương thoái vốn. Và một khi người ta đã quyết định bán thì mình phải tôn trọng ý kiến của người ta. Còn lại các ý kiến khác dạng kiểu bao giờ thì nên cổ phần hóa, cổ phần bao nhiêu, cổ phần hóa đơn vị nào thì chỉ xem như đó là những lời khuyên của các chuyên gia theo mức độ tư vấn. Mấu chốt vấn đề ở chỗ, người nào bán, hay quyết định mức độ cổ phần hóa thì phải chịu trách nhiệm với hành động của mình. Và cũng rất cần phải có thời gian để kiểm chứng việc quyết định này, nếu một hai năm sau quyết định đó là đúng thì chúng ta càng phải tôn trọng họ hơn. Còn với mức độ lời khuyên nên thế này thế khác thì mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra chứ chưa mấy ai chịu trách nhiệm với sự tư vấn của mình. Do đó, luồng ý kiến này chỉ xem như tham khảo.
Về vấn đề cổ phần hóa trong doanh nghiệp nhà nước, có ý kiến cho rằng nhà nước chỉ nên nắm 1% cổ phần hơn là nắm quá nhiều, theo ông có nên học tập kinh nghiệm các nước phát triển trong vấn đề này?
Theo tôi về quan điểm này, chúng ta nên học tập theo cách làm của các nước phát triển của châu Âu như Pháp, Ý, Đức. Nghĩa là ở các doanh nghiệp của họ có tồn tại khái niệm “cổ phần vàng” và cổ phần vàng tức là cổ phần chi phối không phải cứ nhất thiết phải là 50+1 mà có thể chỉ là 3%, 5% là đã có quyền quyết định rồi. Đơn cử như trường hợp Công ty điện thoại di động Siemens, doanh số gần bằng GDP của cả nước Việt Nam, nhưng khó có ai có đến 3% cổ phần trong Siemens. Do đó, nếu tham khảo trường hợp này thì Việt Nam phải chấp nhận 1% cũng đã là cổ phần chi phối. Còn hiện tại ở Việt Nam, con số này phải là quá bán, thậm chí 60% hay 70%. Riêng tôi cho rằng, con số cũng không quá quan trọng. Cái chính vẫn là chính nội lực của doanh nghiệp đó, đội ngũ quản trị, đội ngũ nhân sự.
Được biết trong năm 2014, Việt Nam sẽ có sự hoạt động của Ngân hàng Trung ương. Theo ông tên gọi mới này có làm thay đổi vai trò của Ngân hàng Nhà nước và sức khỏe của hệ thống chính - tiền tệ Việt Nam có được nâng cao?
Theo quy định, Luật Ngân hàng nhà nước ban hành năm 2010 đã nói rõ, Ngân hàng Nhà nước là Ngân hàng Trung ương. Tuy đến nay, tức là sau 3 năm Nghị định hướng dẫn (Nghị định 156/2013/NĐ-CP quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN) mới được ban hành, và đến 26/12/2013, Việt Nam mới chính thức có Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng Trung Ương có thể hiểu nôm là ngân hàng trung tâm, ngân hàng của ngân hàng. Ở đấy chúng ta nên quan tâm nhiều đến nhiệm vụ cũng như mục tiêu hoạt động của định chế tài chính mới này. Theo đó sự ra đời của Ngân hàng Trung ương nhiệm vụ sẽ rõ ràng hơn, mục tiêu cao nhất của nó là bảo vệ giá trị tiền đồng còn nhiệm vụ hỗ trợ tăng trưởng lúc này chỉ còn là thứ yếu. Và khi đó, mục tiêu tăng trưởng sẽ giao lại cho các bộ, ngành chức năng của Chính phủ. Có làm được điều này thì chúng ta mới có thể có chính sách tiền tệ ổn định. Không bị áp lức bởi sự tác động của tăng trưởng kinh tế. Và như vậy sẽ thực hiện đúng kết luận của Bộ Chính trị là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến dần trở thành Ngân hàng Trung ương. Nghĩa là mức độ độc lập của cơ quan này sẽ cao hơn, bởi trong nhiều tình huống gay cấn nếu phải trình qua quá nhiều cấp, đợi nhiều bộ, ngành có ý kiến thì việc xử lý an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tất nhiên, sau quá trình hoạt động từ 2 đến 5 năm, các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách sẽ ngồi lại để xem hoạt động đó ra sao để cùng điều chỉnh Luật Ngân hàng cho phù hợp nhất.
Xin hỏi ông một chuyện khá thực tế, chuyện lương, thưởng của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước năm qua tốn khá nhiều giấy mực, ông đánh giá thế nào?
Hiện tại, Nhà nước đã ban hành quy định mặt bằng lương tối đa của lãnh đạo doanh nghiệp không được vượt qua 54 triệu/tháng, các ngành lợi thế, độc quyền có thể cao hơn tới 60, 70 triệu đồng/tháng, cá biệt Vinafood 1, Vinafood 2 lên tới gần 80 triệu/tháng. Theo tôi như vậy là cao, còn cao hơn cả lương của Thủ tướng. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần có tư duy rằng, mình phải tôn trọng tính đặc thù của từng ngành nghề một. Đó là chuyện lương của đối tượng “công chức lãnh đạo”. Thế nên vừa qua, Việt Nam mới có chuyện hưởng “lương khủng” của một số doanh nghiệp công ích. Tôi nghĩ cần xem lại mức tiền lương quá cao này nếu áp dụng cho các lãnh đạo doanh nghiệp ở những xí nghiệp cây xanh, cấp thoát nước. Còn nếu đó là lương của lãnh đạo doanh nghiệp trong ngành da giầy, xuất khẩu, thì mức hưởng 60 - 70 triệu/tháng là bình thường. Trở lại câu chuyện lương công chức thường, khi đã chấp nhận làm công chức Nhà nước thì phải chấp nhận những thiệt thòi nhưng bù lại sẽ có chế độ khác. Đơn giản như, với mức lương thấp của công chức, thì sẽ được Nhà nước đảm bảo không thất nghiệp, có thể mua được nhà với giá ưu đãi. Còn nếu trong quá trình làm việc, ai vi phạm kỷ luật thì sẽ bị tước bỏ toàn bộ ưu đãi trên. Và chúng ta cũng không quá kỳ vọng vào xã hội phải có một mặt bằng lương bằng nhau, bởi Nhà nước chỉ ban hành một khung lương cơ bản. Còn việc lương đến từng người lao động cụ thể thì do chính doanh nghiệp đó, đơn vị đó tự tính toán sau khi đã trình Sở Lao động Thương binh và Xã Hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xem xét, duyệt và trả lương theo cơ chế đó.
từ ngày 18 – 19/12/2025
VCCI
từ 11/11/2025 đến 30/11/2025
VCCI